“Không có một từ nào bên tiếng Anh có thể bày tỏ hết được các tầng lớp ý nghĩa của từ toská. Ở mức độ sâu thẳm nhất và thống khổ nhất, nó chỉ một cảm xúc đau đớn cùng cực về mặt tinh thần mà không rõ nguyên nhân vì sao. Ở mức độ nhẹ nhàng hơn, nó là một nỗi đau nhức nhối trong tâm hồn, một nỗi niềm khao khát về một thứ gì đó mà chính ta cũng không rõ, một sự lưu luyến đến ám ảnh, một sự thổn thức mơ hồ, một sự mong mỏi xâm chiếm lấy toàn bộ tâm trí ta.” – Vladimir Nabokov
| Ca Khúc Opera“Họ đưa anh về nhà,
Hóa ra anh còn sống.” (Đồng dao)
Đôi mắt mệt nhòa trước ánh đèn lộng lẫy nơi phố thị. Ánh đèn hợm hĩnh. Ánh đèn táo tợn. Tuy nhiên, Trên những dòng chữ khổng lồ hiện lên lời báo hiệu thời khắc TOSCA* sẽ đến, Và chính lúc này đây, bấy nhiêu đó thôi cũng đủ rồi.
Ta yêu làm sao những nỗi kinh hoàng tột độ này và ta biết trước kết cục là gì: Giọng nam cao đã chết trong bộ áo đẫm máu sẽ lại trỗi dậy mà không hề hấn gì trong tràng pháo tay – Anh ta sẽ cười và hôn lên kẻ đã giết mình và kết tình huynh đệ với kẻ thù truyền kiếp kia; Và rồi, trong vòng tay ấy những thanh âm hallelujah sẽ ngân vang, một bầu không khí hân hoan sẽ bao trùm toàn bộ không gian. Niềm vui sướng sẽ thăng hoa lên tận các vì sao cùng với tiếng hò reo của khán giả yêu cầu họ diễn lại một lần nữa. Và rồi tất cả chúng ta sẽ trở nên bất tử, và rồi tất cả chúng ta sẽ hiến dâng chính mình thành tế vật để được chết. (Dịch giả: Ngô Bình Anh Khoa) |
The Opera“If he hollers, let him go!”
(A counting-out rhyme)
Eyes are burnt by the big city gloss that Shines unwelcoming, arrogant, rough. But large letters proclaim there’ll be TOSCA*, And for now, it is more than enough.
How I love all this terrible terror, and I know how the ending will go: Now the bloody-bloused, fully-dead tenor will arise to a big standing O –
And he’ll laugh as he kisses his slayer, and he’ll cherish his sworn enemy; Then, we’ll have jubilation and prayer, hallelujah and praise, glory be! So much laughter we’ll find ourselves breathless: bravo, brava, encore, we’re so thrilled! And we’ll all be so gorgeously deathless, that we’ll offer ourselves to be killed. (Translation: Anna Krushelnitskaya)
|
L’opera“Lo portarono alla sua dimora,
risultò che viveva ancora.” Poesiola per bambini
L’occhio è stanco del luccichio di Mosca. E’ sgarbato. E’ sfacciato. Ma in compenso A caratteri cubitali si annuncia la TOSCA*, Ed è proprio ciò che serve adesso.
Le paurose paure ho sempre amato, dove il finale in anticipo è appreso: Il tenore morto con l’abito insanguinato tra le ovazioni della sala si alza illeso – E ride, baciando l’uccisore, e fraternizza col nemico mortale, E intorno c’è un tale calore, e intorno c’è un entusiasmo tale, E la gioia arriva fino alle stelle, e un bis vogliamo ascoltare, E siamo tutti così immortali, che ci lasciamo anche ammazzare. (Traduzione: Paolo Statuti)
|
Опера«Принесли его домой – оказался он живой.»
Детская считалочка
Глаз устал от столичного лоска. Он неласков. Он нагл. Но зато Крупным шрифтом обещана ТОСКА, И сейчас это самое то.
Я люблю эти страшные страхи, где известен финал наперёд: Мёртвый тенор в кровавой рубахе под овации зала встаёт – И смеётся, убийцу целуя, и братается с кровным врагом, И такая кругом аллилуйя, и такие восторги кругом, И по самую крышу веселье, и приятно на бис вызывать, И такие бессмертные все мы, что позволим себя убивать.
Юлия Пикалова | Julia Pikalova
|

Julia Pikalova là một nhà thơ xuất thân từ Nga. Bà sinh ra tại Moscow và tốt nghiệp từ Đại học Tổng hợp Sankt-Peterburg (với tấm bằng Thạc sĩ ngành Bác ngữ học) và Đại học Tiểu bang California (với tấm bằng Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh). Bà đã gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp tại nhiều công ty quốc tế lớn và đã từng làm việc tại nhiều quốc gia khác nhau.
Pikalova bắt đầu viết thơ khá muộn, nhưng các tác phẩm của bà đã được xuất bản trong những tạp chí và tuyển tập hàng đầu về văn học nước Nga tại nhiều nước, từ Canada đến Mỹ và kể cả các quốc gia Đông Á. Vào năm 2020, tập thơ “THE FIRST” với 500 bài thơ của bà được xuất bản tại Moscow. Vào năm 2021, tập thơ song ngữ của bà với tiêu đề “CAMMINARE SULL’ACQUA” (“Đi trên mặt nước”) được xuất bản tại Ý. Pikalova là tác giả nổi bật của các tạp chí “Sura” (Nga), “La lyre émigré” (Bỉ) và trong liên hoan văn nghệ “Europa in versi” (Ý).
Trong những năm gần đây, bà bắt đầu học đàn piano; từ năm 2017, bà đã tham gia và hai lần đoạt giải tại liên hoan văn nghệ Milano Amateurs and Orchestra. Trong năm 2021 và 2022, nhà soạn nhạc người Ý Giorgio Bernabò đã soạn thảo nên hai bản nhạc có sử dụng thơ của bà tại Vicenza, Ý. Trong năm 2022-2023, Pikalova tích cực viết lách và hoạt động nhằm phản đối chiến tranh. Các bài thơ của bà được in trong tuyển tập văn học phản đối chiến tranh với tiêu đề “DISBELIEF” được xuất bản tại Anh vào năm 2023.
JULIA PIKALOVA
* Tosca:
1. Một ca khúc Opera bi kịch của Giacomo Puccini.
2. Trong tiếng Nga, thuật ngữ bất khả dịch này ám chỉ một sự luyến tiếc khó truyền tải được bằng ngôn ngữ khác:
La lingua russa possiede una meravigliosa quanto intraducibile parola: ТОСКА (toskà), una specie di nostalgia frammista alla tristezza e malinconia. Vladimir Nabokov sostenne che “non c’è alcun equivalente in inglese di тоска: si tratta al suo livello più profondo di una sensazione di grande angoscia spirituale non scaturita da una precisa causa. A livelli meno morbosi si tratta di un dolore sordo dell’anima, di un desiderio senza nulla da desiderare, di uno struggimento malato, di una vaga inquietudine, di una crisi mentali, di uno struggimento.”
“Không có một từ nào bên tiếng Anh có thể bày tỏ hết được các tầng lớp ý nghĩa của từ toská. Ở mức độ sâu thẳm nhất và thống khổ nhất, nó chỉ một cảm xúc đau đớn cùng cực về mặt tinh thần mà không rõ nguyên nhân vì sao. Ở mức độ nhẹ nhàng hơn, nó là một nỗi đau nhức nhối trong tâm hồn, một nỗi niềm khao khát về một thứ gì đó mà chính ta cũng không rõ, một sự lưu luyến đến ám ảnh, một sự thổn thức mơ hồ, một sự mong mỏi xâm chiếm lấy toàn bộ tâm trí ta.” – Vladimir Nabokov
Dành tặng cho “Arte e Cultura Villa Sormani”, dự án “La grande opera in villa”, tháng 11, năm 2022.



