Nhà văn Nguyễn Hiệp sinh năm 1964, hiện là Chi hội trưởng Nhà văn Việt Nam tỉnh Bình Thuận, tác giả nhiều tập truyện và được trao một số giải thưởng.

Chú rùa bay là truyện dài ông viết cho thiếu nhi, mà theo NXB Kim Đồng: “Chú rùa bay là câu chuyện nên thơ về tình bạn phi thường. Một khúc nhạc du dương về tình yêu thương và khát vọng vươn tới điều cao cả. “Chập chờn trong vùng sáng là đám mây trắng bay trên bầu trời xanh biếc, nơi có cậu bé lem luốc, gầy nhom cưỡi trên lưng một chú rùa đang bay, đang bay trên sóng nước. Những tiếng cười trẻ thơ trong trẻo, giòn tan ngân vang, ngân vang…” (trích tác phẩm)”.
Vanvn.vn trân trọng giới thiệu đến bạn đọc trích đoạn truyện Chú rùa bay của nhà văn Nguyễn Hiệp.
Nhạc cát
… Đám cỏ lông chông nháo nhào lên rồi hớt hơ hớt hải vừa bay vừa lăn cuống cuồng, mạnh ai nấy chạy thục mạng như bị ma rượt. Chẳng biết bà Gió dọa gì mà bọn nó sợ mất mật như thế? Ở đảo đèn này, mong một ngày bà Gió đi vắng là chuyện còn lâu mới có. Từ rạng sáng đến chạng vạng, lúc nào bà ấy cũng cao giọng rít rú hù dọa ai đó hoặc hạ giọng luyến láy say sưa tán chuyện với mọi vật. Những âm thanh hoang đường phát ra từ miệng bà Gió tôi nghe chán cả tai. Điều tôi mong nhất mà có thể thành sự thật, một món quà tuyệt diệu của biển, đó là những ngày rằm hàng tháng, khi nước triều rút cạn, phía trong chân đảo liền hiện ra những giồng cát lượn cong, sạch bong, mịn màng. Thường thì không phải dụi mắt nhìn đi nhìn lại nghi ngờ gì cả, những giồng cát ấy là “cây đàn” thương thiết gắn bó với tôi từ lâu rồi. Cứ trần trùng trục, chỉ chiếc quần đùi trên người, từ nhà đèn tôi ào xuống bãi, bất chấp bà Gió nghịch ngợm trêu đùa núm tóc tôi từng đợt, từng đợt hất ngược lên trời.
Những hạt cát mịn hết biết! Những hạt cát sạch hết biết! Những hạt cát trăng trắng vừa rao ráo mát lạnh long lanh lấp lánh trong nắng chiều luôn mang đến cho tôi niềm thích thú vô bờ bến. Cát đó! Cứ như cả bãi ngọc trời cho riêng tôi vậy. Khua chân vào vũng nước đọng cho thiệt sạch, đặt hai chiếc dép lên tảng đá hình bàn tay úp với ba ngón khum khum cắm sâu vào cát, tôi trịnh trọng đưa đôi chân trần bước vào trò chơi quen thuộc bất tận của mình. Trò chơi nhạc cát bắt đầu! Tôi luôn thì thầm một mình tự ra lệnh cho mình và nhẹ nhàng nhón chân nhấn gót lên cái giồng cát phát ra những âm thanh “thần thánh” đó. Tôi nghiêng người bên này, nghiêng người bên kia, vừa đi vừa lắng tai nghe tiếng nhạc khìn khịt, khin khít, khào khạo kì diệu vang ngân khẽ khàng dưới từng gót chân chầm chậm cọ sát vào những hạt ngọc trời cho của mình. Tôi tự thấy mình rất điệu nghệ trong từng bước nhấn nhá gót chân. Tôi đi chậm, hơn nửa bàn chân nhấn mạnh xuống thì cát sẽ phát ra những lời phàn nàn đùng đục, giận dỗi. Đi được ba bốn bước tôi lại xoạc xiên ngang hoặc xoáy gót một phát cho những âm thanh sột soạt nối nhau ngân vang, ngân vang như lời ca hân hoan vui vẻ. Cả một đoạn dài, tôi co rút cho bàn chân ngóc đầu lên, gót nhọn nhẹ nhàng đặt xuống, ấn sâu xuống để âm thanh liên tiếp rít lên cao bổng như tiếng ai đó vừa ấn chiếc muỗng vào lon sữa bột đầy ắp mà múc lên cả muỗng đầy những béo ngọt thơm tho. Nghe âm thanh ấy thôi nước miếng đã ứa ra đầy miệng. Nói ra thiệt mắc cỡ, có lúc tôi phải dừng lại để nuốt đánh ực cái thứ nước miếng thèm khát khổ sở do trí tưởng tượng nổi loạn ấy. Và thường thì sau đó tôi có một đoạn nhảy chân sáo trong niềm phấn khởi tột độ, có khi còn chu miệng huýt huýt mấy tiếng mong muốn nối dài thêm điệu nhạc cát mê đắm giữa tiếng thủy triều nhịp nhàng nhẹ nhàng ì à ì oạp triền miên lên xuống, xuống lên… mà cha nuôi tôi gọi là tiếng nhật triều.
Những đắm đuối, tưởng tượng một mình với các cung bậc âm thanh phát ra từ những đụn cát ngay dưới chân mà nghe xa xăm, mà nghe mơ hồ ấy kéo tôi đi mải miết hết giồng cát này đến giồng cát kia cho đến khi mặt trời đỏ rực lặn vào làng mạc phía trong đất liền. Ánh sáng bị hút hết vào lòng biển rất nhanh. Sóng biển cũng góp phần co kéo lau dọn cho đến khi sạch trơn, không còn một sợi tơ ánh sáng rực vàng, rực đỏ nào nữa trên bãi biển. Những vũng nước bị bỏ lại một mình, mây trời thản nhiên vẫy tay tạm biệt từ lâu, mấy cánh hải âu cũng biến vào mênh mông, không thèm soi bóng. Bà Gió chợt trở nên hiền lành, dịu dàng hẳn ra, cũng có thể sau một ngày dài tán chuyện bà ấy đã thấm mệt, lử lả. Cả những bầy dã tràng cũng nhanh chóng chui vào mấy ngôi nhà cát nhiều ngóc ngách và sâu hoắm của mình, bỏ dở dang cả công việc se cát đắp đường đi xuống phủ Long Vương đòi lại viên ngọc ngỗng quý giá, (Tôi biết sự tích Dã Tràng qua lời kể của cha nuôi trong những đêm trăng sáng vằng vặc trên đảo đèn).
Và chắc chắn khi ánh đèn trên ụ tháp bắt đầu chiếu rọi từng luồng, từng luồng sáng mạnh mẽ theo nhịp ba- một, ba dài một ngắn… ra phía biển xa cũng là lúc tiếng hú gọi của cha nuôi tôi cũng vừa vang lên từ chân tháp, từ những cấp đá mòn nhẵn đầy bông trắng rụng từ hai hàng bông sứ xù xì cổ thụ. Đó là lúc cha nuôi vừa xong công việc kiểm tra, lau bóng điện hàng ngày của mình, đang đi từ tháp đèn xuống nhà ở. Tôi “dạ” một tiếng thật to và nhảy phốc lên mỏm đá hình đầu người khổng lồ quơ quơ hai tay cho cha nuôi thấy được tôi từ xa mà yên tâm.
Có lần đang mê với trò chơi nhạc cát thì tôi giật mình cái đụi vì vừa thấy một bóng người. Tôi nhanh chóng định thần ngay, lẳng lặng như thế không thể là ai khác ngoài cha nuôi ra, những người đàn ông ra đảo đèn bắt đú và tìm trứng đú thường rất ồn ào, họ đi đến đâu là hơi rượu và những tiếng văng tục ngập ngụa đến đó.

Cha nuôi ngồi bó hai tay quanh gối trên tảng đá đầy rêu nhìn tôi chơi, hai mắt ông lấp lánh. Cha nuôi đã im lặng chăm chú nhìn từng bước chân và cái cách nghiêng nghe rồi cười một mình của tôi. Cuối cùng thì cha nuôi cũng lên tiếng: Có một loại đàn người ta gọi là dương cầm, chơi đàn bằng cách dùng ngón tay ấn các phím. Hình như con đang chơi đàn bằng những gót chân… Cha nuôi vừa nói vừa bước đến ôm tôi vào lòng. Cha nuôi là người hiểu tôi nhất trên trần đời. Cha nuôi hiểu được cả những giấc mơ, những trò chơi và cả những tưởng tượng trong đầu của một đứa bé. Tôi dụi đầu vào người cha và cảm nhận được tình thương cha nuôi dành cho tôi dạt dào, vô bờ bến. Cha nuôi nói: Nếu con thích âm nhạc cha sẽ dạy cho con! Cha “lên dây cót” cho tôi: “Trên đời có triệu người là có triệu ước mơ nhưng chỉ vài người thực sự cố gắng biến ước mơ thành sự thật. Ước mơ chính là đôi cánh giúp chúng ta bay lên… Con phải thật cố gắng nghe!”.
Cha nuôi tôi là người “gác đèn”, coi ngó chăm sóc cho ngọn hải đăng này nên mọi người gọi là ông Hai Hải Đăng, cũng có vài người gọi Ông Hai Cụt vì cha nuôi bị tháo khớp đầu gối chân trái, phải gắn vào đó một chân giả bằng gỗ. Từ lâu cha nuôi đã trở thành một phần đá cây và sóng biển nơi đây. Tiếng bước chân lọc cọc không đều của cha nuôi đã trở thành một phần nhớ thương không nguôi trong ký ức của tôi. Tiếng nước biển, sóng biển thì thầm trong giọng nói của cha nuôi đã chiếm giữ một phần quan trọng trong tâm hồn tôi. Hơi nước biển mặn mòi thấm đẫm nhuộm màu trong làn da nâu bóng của cha nuôi là màu sắc tôi yêu thích nhất trong cuộc đời này. Và tôi, chắc chắn cũng sẽ thành như vậy, giống cha nuôi, y chang cha nuôi. Tôi cứ hình dung tiếng nước biển, sóng biển thì thầm trong giọng nói của mình mà mỉm cười một mình. Cha con tôi thân thuộc với nơi đây. Tôi không biết rõ ngọn đèn biển này cao bao nhiêu, chỉ biết ngước nhìn trật ót mới thấy được bầy yến bay lượn và ụ đèn bên trên. Có lần cha nuôi dẫn tôi lên ụ đèn chơi cho biết, ông nói cầu thang bằng thép hình trôn ốc mà chúng tôi vừa chinh phục có cả thảy 183 bậc.
– Ba đếm hết luôn hả ba?
– Ừ thì ngày nào cũng lên xuống, đếm miết thuộc luôn.
Tôi phục lăn khi biết cha nuôi vừa leo vừa đếm, trong khi tôi leo từng cấp theo ông thôi đã phải thở bằng cả tai cả mũi, mà phải dừng lại nghỉ cả chục lần. Cha nuôi còn giảng đây là hải đăng cổ xưa nhất nước Việt mình. Vừa liền tay lau bóng điện lớn trong ụ đèn, ông vừa kể đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tôi thấm ý cười miết chuyện về cái tên Kê Gà. Cha nuôi giải thích: Do người Pháp đến đây xây dựng hải đăng, trong khi đi vẽ bản đồ, họ hỏi ông hương, ông lý trong đất liền: “Nơi đây gọi là gì?”, mấy người đó trả lời “Khê Gà”, (tên chữ vậy nhưng dân thường gọi Khe Gà, do khe nước ngọt chảy ra tận bờ biển này có nhiều gà rừng, gà lôi tụ tập uống nước). Trong tiếng Pháp có phụ âm “K” chớ không có “KH” nên ông Tây đó ghi luôn lên bản đồ hai chữ “Kê Gà” mà chẳng biết “kê” cũng có nghĩa là gà. Tưng tửng vậy đó mà địa danh “Hai gà” ra đời, in rõ ràng trên tất cả các bản đồ sau đó luôn! Nói như mấy người đánh bầu cua cá cọp thì “Gà! Có hai con gà!”… Kể đến đó cha con tôi cùng ôm bụng mà cười, tiếng cười của hai cha con âm âm ngân ngân mãi trong ụ đèn, trong vòng thang xoáy ốc…
Được cha nuôi dẫn lên ụ đèn cao ngất giữa trời xanh ấy tầm mắt tôi được mở rộng ra. Tôi đưa mắt háo hức nhìn hút vào làng mạc phía xa kia và như bị thôi miên trước cảnh kì vĩ của những vách đá cao vút nhô lên từ những đợt sóng biển trắng xóa. Gọi là ụ đèn thật ra có tới ba tầng. Trên cùng là tầng có bóng đèn chính xoay chung quanh, đèn được mái vòm có vách kính dày bảo vệ. Tầng giữa có vành đá ghép hình tròn và rào chắn thép bao bọc. Tầng thứ ba là buồng kỹ thuật có cửa vào, (chỉ mình cha được vào đó), lan can rộng hơn làm bằng đá ghép thành hình bát giác, mỗi cạnh lại có tám trụ đá dẹt ghép thẳng hàng. Thấy tôi chồm đầu lên trên thanh đá lan can, cha nuôi cứ phải luôn nhắc chừng phải hết sức cẩn thận. Cha nuôi dừng công việc ở tầng trên xuống đứng một bên, nghĩ chắc ông lo lắng, tôi nói “Con không sao đâu!”. Cha nuôi đứng cạnh bên đưa tay choàng qua người tôi và khe khẽ kể: Ngày trước, có người thường lên đây thòng dây thừng đu mình từ lan can xuống lấy tổ yến về bán. Một hôm, gió mạnh đột ngột thổi, ông ta không cách gì đu lên lại được. Sợi dây thừng bị đưa qua đưa lại cạ miết vào thanh đá lan can nên các tao dây đứt dần, đứt dần. Cho đến khi phần dây mỏng manh còn lại không chịu nổi sức nặng nữa thì đứt phựt. Một tiếng thét dài của sự sợ hãi tột độ bay từ ụ đèn ngân ngân xuống tận những con sóng trắng xóa, tận những mỏm đá nhô nhọn như bãi chông. Người bắt yến rơi xuống mỏm đá bên dưới tan xác. Cho tới giờ, cha nuôi vẫn còn ám ảnh cái chết không toàn thây thảm thương ấy… “Tháp làm bằng đá hoa cương, tường dày hơn mét rưỡi, không ngã được nhưng… gió- trên- cao- mạnh- lắm, chủ quan là bị thổi bay ngay!”, cha nuôi nghiêm mặt nói từng lời như vậy.
Đêm ấy, trong giấc chiêm bao, tôi mấy lần giật mình hét lên khi thấy chính mình bị rơi rất nhanh từ trên cao xuống những mỏm đá lởm chởm. Và tôi cứ mãi nghĩ về cảm giác bay trong không trung như một cánh chim nhưng cũng liên tục rùng mình vì nỗi sợ hãi đến đứng tim, ngừng thở đó.
Có lẽ cha nuôi biết tôi gặp ác mộng khi nghe kể về câu chuyện quá kinh hoàng của gã đàn ông thòng người trên dây bắt yến nên tìm mọi cách giúp tôi xua tan những thứ nặng nề ấy ra khỏi tâm trí. Là tôi đoán vậy khi nhìn ánh mắt có vẻ hơi hối hận khi đã kể cho tôi nghe câu chuyện khiếp đảm kia. Vừa sáng sớm, cha nuôi đã gọi tôi đến và tặng tôi một chiếc vợt lưới do tự tay ông làm. Chiếc vợt cũng không có gì đặc biệt, nó làm từ mảnh lưới cũ trôi dạt cha nuôi nhặt được và vòng sắt cũng hơi rỉ sét, cả mấy con sao biển và hải miên tím đỏ khô cứng cũng không lạ gì nhưng cái cách ông thì thào đầy vẻ bí mật và nói “Đây là chiếc vợt bắt giấc mơ” khiến tôi thích thú và tò mò. Cha nuôi nói thêm: bắt được giấc mơ đẹp hay lạc vào giấc mơ nặng nề là tùy người chủ của cây vợt nghen!
– Chiếc vợt này bắt được giấc mơ hả ba?! Hay quá! Con thích những giấc mơ đẹp! Tôi reo lên và cầm chiếc vợt có treo toòng teng mấy bạn sao biển, mấy bạn hải miên dễ thương kia mà chạy đi. Đến khi ra tận mép sóng biển dưới chân đảo đèn tôi mới nhận ra mình đã quên hỏi cha nuôi cách bắt giấc mơ như thế nào…
NGUYỄN HIỆP
(Còn tiếp)


