Nhà Mạc lấy giang sơn từ nhà Lê vẫn cai trị với hệ thống quân sự và quan lại triều đình như cũ. Có ba nguồn nhân lực phục vụ chính gồm những quan lại được tuyển dụng mới thông qua các kỳ thi cử, một số quan lại cựu triều và một số hoàng thân quốc thích nhà Mạc. Số sau này do năng lực hạn chế nên chỉ giữ những chức quan nhỏ.

Kiếm hoa khai phá
Thiên đỉnh trùng phùng
Tiền truyện
Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế vua Lê Cung Hoàng (Nhà Hậu Lê), lập nên nhà Mạc. Làm vua được 3 năm, Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh để lên làm Thái Thượng hoàng.
Bấy giờ Nguyễn Kim là một tướng giỏi của nhà Hậu Lê, quê ở Gia Miêu, trấn Thanh Hoa. Ông đang là Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An Thanh hầu, cùng nhiều tướng khác của nhà Lê, chống lại nhà Mạc. Nguyễn Kim cùng thân tín chạy qua nước Ai Lao, được vua nước này cho trú tại đất Sầm Châu để chiêu mộ binh mã chống Mạc. Trong vài năm liền, quân Nguyễn Kim đánh nhau với quân nhà Mạc nhưng đều bị thua, phải cố thủ ở Sầm Châu.
Năm 1533, Nguyễn Kim cùng các tướng khác tìm được người trong dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Ninh. con trai duy nhất của vua Lê Chiêu Tông (Vua thứ 10 nhà Hậu Lê, bị Mạc Đăng Dung phế ngôi để lập Lê Cung Hoàng thay thế làm vua, sau lại phế Lê Cung Hoàng và chiếm ngôi). Lê Duy Ninh mới hai mươi tuổi được tôn lên làm vua, tức vua Lê Trang Tông, bắt đầu thời kỳ nhà Lê Trung hưng trên đất Ai Lao. Lê Trang Tông phong cho Nguyễn Kim là Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công.
***
Trịnh Kiểm ra đời năm 1503 tại huyện Vĩnh Lộc, trấn Thanh Hoa, nhà nghèo chỉ có hai mẹ con lại bị làng xóm ghét bỏ. Mẹ bị hại, mất khi Kiểm chưa có công danh gì. Một thầy tướng tình cờ đi ngang mộ mẹ Kiểm, quan sát hồi lâu rồi nói: Phi đế phi bá – Quyền khuynh thiên hạ – Truyền tộ bát đại – Tiêu tường khởi vạ (Nghĩa: Chẳng đế chẳng bá – Quyền nghiêng thiên hạ – Truyền được tám đời – Trong nhà dấy vạ). Kiểm nhớ lời này, nửa tin nửa ngờ.
Trịnh Kiểm gia nhập đội quân của Nguyễn Kim. Nhờ có tài mà được Nguyễn Kim gả con gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo, con bà Thứ phu nhân họ Đỗ. Năm ba mươi sáu tuổi (1539), Kiểm được vua Lê phong chức Đại tướng quân Dực nghĩa hầu.
Năm 1543, quân Nguyễn Kim đánh chiếm được trấn Thanh Hoa (Vốn là Tây Đô thời nhà Hồ). Tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất xin hàng. Hai năm sau, ông này dâng dưa đầu độc Hưng Quốc công rồi trốn về lại với vua Mạc. Con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm ở tuổi trung niên sung sức và đầy tham vọng, được thay cha vợ nắm binh quyền, trở thành thế lực quân sự lớn mạnh nhất thời vua Lê Trang Tông. Năm 1546, Trịnh Kiểm rước vua Lê Trang Tông từ Ai Lao về Thanh Hoa, đặt hành điện tại Vạn Lại, phủ Thiệu Hóa. Sau lại thêm Yên Trường ở phía dưới Vạn Lại. Hai nơi này được xem như kinh đô tạm của nhà Lê Trung hung.
Bấy giờ nước Đại Việt coi như bị chia làm hai: Bắc triều thuộc về nhà Mạc, kinh đô là Thăng Long, có lãnh thổ kéo dài từ vùng đất cực bắc đến trấn Sơn Nam; Nam triều thuộc nhà Lê Trung hưng, chiếm giữ từ trấn Thanh Hoa trở vào Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam.
***
Nhà Mạc lấy giang sơn từ nhà Lê vẫn cai trị với hệ thống quân sự và quan lại triều đình như cũ. Có ba nguồn nhân lực phục vụ chính gồm những quan lại được tuyển dụng mới thông qua các kỳ thi cử, một số quan lại cựu triều và một số hoàng thân quốc thích nhà Mạc. Số sau này do năng lực hạn chế nên chỉ giữ những chức quan nhỏ.
Đúng năm 1541 khi Mạc Phúc Hải lên ngôi thay Mạc Đăng Doanh thì ở Thăng Long xảy ra một việc hết sức bất ngờ.
Một người trong hoàng tộc nhà Mạc tên là Mạc Ký đang là nội quan chuyên lo các buổi thiết triều, xin vua cho mình được ra làm dân. Ông này khoảng tuổi ba mươi, có tài tổ chức, sắp xếp công việc chu đáo, văn hay chữ tốt, tính tình điềm đạm, chỉ có điều rất ngại chuyện thị phi.
Vua ngạc nhiên, cảm thấy bực bội trong lòng lắm nhưng vẫn điềm tĩnh hỏi vì sao thì Mạc Ký thẳng thắn thưa:
– Thần trộm nghĩ: Nhà Mạc ta lấy ngôi của nhà Lê là có lý do. Nhưng dù thế nào đi nữa thì ta vẫn chỉ là mới lấy được ngai vàng và đất đai chứ chưa lấy được hết lòng dân. Đến nay đã mười ba năm qua đi, lòng dân vẫn chưa thay đổi qua phò Mạc hết mà còn nảy sinh ra nhiều mầm mống chống đối. Nhà Lê đã trung hưng, sắp đem quân đánh Mạc để đòi lại giang sơn. Thần không muốn đứng về một phía nào.
Mạc Ký quả là ăn gan trời, dám nói điều đại nghịch. Mạc Phúc Hải bừng bừng giận dữ quát mắng:
– Ngươi là con cháu nhà Mạc, là quan nhà Mạc, ăn bổng lộc nhà Mạc, sao dám cả gan bảo là không đứng về phía nhà Mạc? Ngươi có ý làm phản ta chăng?
Nghe vua nói thế, Mạc Ký biết là mình đang đứng trước cái chết cận kề, nhưng ông vẫn ngang nhiên trả lời:
– Nếu có ý tạo phản thì thần đã chẳng nói ra lời gan ruột là xin vua cho ra làm dân.
Lý lẽ của viên quan thân tộc chỉ khiến Mạc Phúc Hải tạm hạ hỏa đôi phần, vua hạ lệnh tống giam Mạc Ký vào ngục. Ai cũng nghĩ là cái chết sẽ đến với con người này một cách cực kỳ đau đớn trong nay mai. Tuy nhiên sau đó, vua được nghe nhiều lời khuyên can của cận thần và chính ông cũng suy nghĩ lại thấu đáo hơn. Mạc Ký chỉ là một viên quan văn, tính tình nhu mì, thường tránh xa những chuyện mâu thuẫn, thích đọc sách và làm thơ, chắc chẳng có ý phản. Điều quan trọng nhất là ông ta đã không sợ chết mà dám nói ra sự thật lòng mình thì có thể tin được. Chỉ giận Mạc Ký dám nói rằng không đứng về phía nhà Mạc, đáng tội chết muôn phần. Đem ông ta ra giết thì quá dễ, chỉ e tiếng đời cho là vua độc ác, đến người trong hoàng tộc cũng không tha. Mặt khác, vua mới lên ngôi cũng nên tránh chuyện giết chóc quần thần. Chi bằng cho kẻ điên cuồng này được sống để đổi lấy tiếng khoan dung. Cân nhắc là thế nhưng vua vẫn phải mất nhiều ngày để dằn cơn giận dữ đến thấp nhất mới có quyết định cuối cùng. Mạc Phúc Hải cho thả Mạc Ký. Ông này được chấp thuận cho từ quan, nhận lệnh đem gia đình rời khỏi Thăng Long về Cổ Trai, thuộc trấn Hải Dương, là quê cũ của dòng họ Mạc mà sinh sống. Vua lệnh cắt hết mọi bổng lộc mà một viên quan nghỉ việc lẽ ra đươc hưởng. Mạc Ký phải ra đi tay trắng càng sớm càng tốt, trước khi vua đổi ý!
Mạc Ký không mảy may buồn bã, ông còn mừng rỡ lạy tạ vua. Về đến nhà, ông mau chóng cùng gia đình thu dọn nbà cửa ở Thăng Long để về quê Cổ Trai.
Mạc Ký không thể ngờ là tại quê cha đất tổ, gia đình ông lại không thể sống yên ổn.
Chỉ một thời gian ngắn, người làng đã biết chuyện Mạc Ký xin ra làm dân, hầu như ai cũng cho là ông nếu không điên dại thì chắc chắn ngầm nuôi lòng phản trắc. Nhiều người đối xử với Mạc Ký không chút thiện cảm đã đành, mà còn xa gần nói xấu cả cha mẹ và người vợ trẻ của ông. Trong cuộc sống hàng ngày, gia đình ông bi làm khó đủ điều, thậm chí có những người thân lặng lẽ xa lánh để tránh bị liên lụy về sau. Mạc Ký cắn răng chịu đựng. Ông động viên gia đình: “Ta cố sống tốt, rồi xóm làng sẽ hiểu lòng ta thôi”. Nhưng điều mong mỏi của ông khômg diễn ra. Gia đình Mạc Ký ngày càng bị ghẻ lạnh. Cuối cùng chỉ hơn một năm ông phải bỏ Cổ Trai để chuyển vào trấn Thanh Hoa. Chẳng may chính vào thời gian này quân của Nguyễn Kim đang đánh quân nhà Mạc tại đây và sau đó họ chiến thắng, lấy được Tây Đô. Gia đình Mạc Ký lại bị làm khó vì là “dòng dõi nhà Mạc”. Cha ông trước kia ủng hộ con, nay quay lại trách móc ông. Rồi ông cụ bị tâm bệnh, bỏ ăn uống nhiều ngày mà qua đời.
– Sao ông không đổi họ thay tên để giấu hẳn nguồn gốc của mình?
Một người mới quen ở Thanh Hoa thông cảm với hoàn cảnh của Mạc Ký mà bày cách cho ông như vậy. Mạc Ký lắc đầu:
– Tôi họ Mạc thì cứ giữ nguyên họ Mạc. Họ nào thì cũng có người thế này, người thế khác. Tôi là người không thích chiến tranh, không hám quyền hành mà chỉ muốn có cuộc sống bình thường của một người dân. Những khó khăn trong cuộc sống thì người đời ai cũng phải gặp, sao tránh được. Chính nhân quân tử thì phải cố gắng vượt qua những thử thách đời mình dù khó khăn đến đâu đi nữa…

Thêm một thời gian vừa bươn chải trong đời sống, vừa cố vượt qua sự trấn áp tinh thần của chính quyền nhà Lê và nhiều người xung quanh, tình cảnh nhà Mạc Ký vẫn không cải thiện. Thấy khó sống yên ở Thanh Hoa, Mạc Ký chuyển vào Nghệ An trong hoàn cảnh nghèo túng. Quả thật việc một viên quan văn cởi áo mũ, buông bút lông, sách vở để ra làm thường dân không dễ dàng chút nào. Đến xứ Nghệ, Mạc Ký đành để vợ mình vốn là con quan, từng làm thơ phú đối họa với chồng, phải đi chạy chợ vì sức khỏe của ông vốn đã kém, đầu óc lại luôn buồn phiền do tự cho mình là kẻ bất lực trước cuộc sống. Mẹ ông không chịu được cảnh cơ hàn, kham khổ, cũng đổ bệnh mà khuất bóng, về đoàn tụ với chồng nơi chín suối. Còn may là đến thời gian này và tại nơi xa lạ, cái lý lịch dòng dõi nhà Mạc của gia đình Mạc Ký không còn bị quan quân và người đời để ý lắm như trước nữa.
Sau nhiều năm chung sống không con cái, cuối cùng vợ chồng Mạc Ký cũng có được niềm vui lớn. Đứa con trai Mạc Huy của họ ra đời sau nhiều năm họ đến sống ở Nghệ An. Nhiều người quen biết cho rằng đây chính là kết quả cuộc sống an yên của vợ chồng Mạc Ký mà trời đất bù đắp cho họ.
Đúng vào năm này, Nguyễn Hoàng được vua Lê, với sự đồng ý của Thái sư Trịnh Kiểm, cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa.
Vợ Mạc Ký bàn với chồng:
– Hay là gia đình mình cũng theo mọi người vượt đèo Ngang tìm đất mới mà tạo dựng cuộc sống khác…?
Khổ nỗi người đàn ông mới quá nửa sau của tuổi trung niên mắc tâm bệnh nhiều năm, thêm cuộc sống kham khổ khiến nhìn ông già đi trước tuổi, sức khỏe giảm sút thê thảm. Ông buồn bã nói với vợ:
– Không còn thời gian để ta làm lại cuộc đời mới nữa đâu bà ạ. Sức ta đã yếu lắm không biết còn nhìn được ánh mặt trời đến lúc nào, con thì còn quá nhỏ… Chi bằng việc này giao lại cho Mạc Huy thực hiện khi nó trưởng thành vậy…
Giọng ông trầm xuống, đọc mấy câu tự thán:
Đời người ai dễ mình định đoạt
Cuộc thế vô cùng dẫn lối ta
Chim bằng xếp cánh, người Khương hận
Hổ dữ ngậm nanh, Án Anh buồn
Đặng Dung những muốn trừng Trương Phụ
Nào ngờ thân trôi dòng Yên Kinh
Trời không có mắt cam đành phận
Thương vợ xót con gánh bạc phần
Bà vợ nước mắt chảy ròng. Là người được học hành, có chữ nghĩa, bà hiểu chồng mình xem cuộc sống một thường dân trong mong ước của ông ngang với chí lớn của các anh hùng và trên đất Nghệ An, nơi vị tướng Đặng Dung của nhà Trần sinh ra, ông đã nhớ đến cảnh ông này phải gieo mình tự trầm trên sông nơi đất khách Trung Hoa.
Hai vợ chông Mạc Ký ngậm ngùi nhìn thằng bé Mạc Huy hồn nhiên chơi đùa với con ngựa tàu cau của nó. Cũng may mắn là họ còn có Mạc Huy.
***
Vua Lê Trang Tông mất vào năm 1548, Lê Trung Tông lên thay. Hai năm trước khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, Lê Trung Tông mất mà chưa có người nối ngôi.
Trịnh Kiểm có ý định lên ngôi vua, lập nên nhà Trịnh thay nhà Lê, nhưng ông còn lưỡng lự. “Phi đế phi bá…”. Lời tiên tri của ông thầy tướng năm nào lởn vởn trong đầu Kiểm. Tấm gương Mạc Đăng Dung tiếm ngôi vua và bị mọi người oán trách vẫn còn đó. Bản thân ông cũng đang đánh Mạc giành lại giang sơn cho nhà Lê thì lẽ nào… Không tự quyết định được việc hệ trọng này, Trịnh Kiểm cho người tâm phúc tìm đến am Bạch Vân bên sông Tuyết Giang là nơi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở ẩn, xin ý kiến. Nguyễn Bỉnh Khiêm là người tài cao học rộng, thi đỗ và làm quan cho nhà Mạc. Ông được vua Mạc phong là Trình Tuyên hầu nên được gọi là Trạng Trình. Tuy ông làm quan nhà Mạc nhưng những người cầm quyền nhà Lê Trung hưng vẫn tin phục tài ông, xem ông là nhà tiên tri đại tài của nước Đại Việt.
Người thân của Trịnh Kiểm đến am Bạch Vân. Trạng Trình vờ không biết, ông nói với người hầu của mình: “Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ”. Rồi ông lại sai người của mình: “Đi trước lên chùa, báo rằng ta sẽ đến vãng cảnh chùa. Nhớ nhắc các chú tiểu: Giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!”.
Người của Trịnh Kiểm không xuất hiện mà lặng lẽ bỏ về và kể lại cho chủ nhân nghe. Kiểm hiểu ý Trạng Trình, từ bỏ ý định chiếm ngôi vua của nhà Lê. Sau đó, Trịnh Kiểm cho người đi tìm khắp nơi, gặp được một người là huyền tôn của ông Lê Trừ (Anh vua Lê Thái Tổ). Trịnh Kiểm rước người này về tôn làm vua, tức vua Lê Anh Tông (1556).
Trịnh Kiểm muốn tập trung quyền lực vào tay mình nên tìm cách hại chết người con trai lớn của cha vợ là Lạng quận công Nguyễn Uông. Người con trai thứ nhì là Đoan quận công Nguyễn Hoàng lo sợ, hỏi ý người bác họ là Nguyễn Ư Dĩ:
– Trịnh Kiểm đã hại được huynh Nguyễn Uông thì nay mai sẽ lại hại chết con thôi. Con phải làm gì bây giờ?
Nguyễn Ư Dĩ đã nghĩ sẵn đến điều này nên trả lời ngay với cháu:
– Trước mắt, con phải giả ngây giả dại để đánh lừa Kiểm, đồng thời hết sức đề phòng. Ta sẽ đi gặp Trạng Trình để hỏi ý kiến của ông ấy xem sao.
Nguyễn Ư Dĩ bí mật đi gặp Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng chỉ nói: “Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân”.
Nguyễn Ư Dĩ về kể lại với Nguyễn Hoàng. Hai bác cháu cùng hiểu Trạng Trình muốn khuyên họ điều gì.
Nguyễn Hoàng lập tức đến xin vua Lê Anh tông cho mình vào trấn thủ đất Thuận Hóa ở phía nam dãy núi Hoành Sơn.
KHÔI VŨ
(Còn tiếp)


