Kiếm hoa – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 2

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 21:44

Đời nhà Hồ, quân Chiêm quấy nhiễu vùng biên cương, Vua Hồ Quý Ly đem đại binh đánh Chiêm thắng lợi. Vua Chiêm phải dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy. Vua Hồ thu nhận và đặt thành bốn châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Nhưng đến thời kỳ nhà Hồ mất ngôi, đất nước thuộc nhà Minh thì Chiêm Thành thừa cơ lấy lại đất của bốn châu này về nước họ.

Nhà văn Khôi Vũ ở Đồng Nai

 

Lịch sử ghi lại rằng:

Trong thời Bắc thuộc, khu vực phía nam Hoành Sơn thuộc quận Tượng Lâm, sau thuộc quận Nhật Nam.

Từ xa xưa đã có một tiểu quốc là chư hầu của vương quốc Phù Nam. Khi người Khmer chiếm Phù Nam, tiểu quốc này cũng thành lập nước Lâm Ấp, có lãnh thổ từ sau đèo Hải Vân trở vào. Họ thường xua quân đánh phá đất Nhật Nam rồi chiếm được, mở rômg lãnh thổ Lâm Ấp về phía bắc tới nam Hoành Sơn.  Lâm Ấp xin làn chư hầu của nhà Đường (Trung Hoa). Tên Lâm Ấp không được nhà Đường chấp nhận mà gọi tên cũ theo tiếng Hán là Hoàn Vương. Thế kỷ IX, đế quốc Khmer lớn mạnh nhiều lần qua đánh phá, cướp bóc Hoàn Vương. Sau này khi giành được độc lập (758), nước Hoàn Vương đổi tên thành Chiêm Thành. Vùng đất chiếm được trước đó được họ đặt làm hai châu Bố Chính và Địa Lý.

Thời nhà Lý của Đại Việt, Chiêm Thành là nước chư hầu, hàng năm phải triều cống. Nhưng đến đời vua Lý Thái Tông, nước Chiêm không nộp cống vật nên bị đánh phá tới tận kinh đô Phật Thệ, vua Chiêm bị giết. Quân Lý rút về sau khi lập vua Chiêm mới. Chiêm Thành phải trở về vị trí chư hầu như cũ. Tuy nhiên qua đời Lý Thánh Tông, Chiêm Thành lại trở mặt. Họ thần phục nhà Tống của nước Trung Hoa, được nhà Tống cho phép đi đường biển qua mua lúa ở Quảng Châu. Vì lẽ đó nên nước Chiêm dựa thế nhà Tống mà bỏ triều cống Đại Việt.

Xem như bị khiêu khích, vua Lý Thánh Tông quyết thân chinh cầm quân phạt Chiêm, có tướng Lý Thường Kiệt đi tiên phong. Việc điều hành triều đình và nội trị, vua giao cho Nguyên phi Ỷ Lan và Thái sư Lý Đạo Thành thay mình xử lý. Xuất quân từ tháng Hai năm 1069, gần một tháng sau đại quân Việt vào đến cửa biển Nhật Lệ và Tư Dung của Chiêm Thành, bắt đầu đánh Chiêm. Kinh đô của Chiêm là thành Phật Thệ thất thủ, vua Chiêm là Chế Củ cùng thân quyến và tùy tùng thân tín bỏ trốn về phía biên giới Chân Lạp. Quân Lý đuổi theo và bắt được tất cả. Vua, quan và tù binh Chiêm bị giải về Thăng Long. Chế Củ xin dâng đất ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh cho Đại Việt nên được tha chết, cho trở về làm vua phần lãnh thổ còn lại của Chiêm. Tuy nhiên không lâu sau đó. Chiêm Thành liên minh với nhà Tống hình thành thế gọng kìm chuẩn bị đánh Đại Việt.

Được sự đồng ý của vua Lý Thánh Tông, tướng Lý Thường Kiệt đã ra tay trước với hai nước thù địch. Quân Đại Việt vừa đánh sâu vào nước Tống phía trên, vừa phạt Chiêm phía dưới và đều giành thắng lợi khiến cả hai không thực hiện được dã tâm. Cuối năm 1076, nhà Lý vẽ lại bản đồ Đại Việt, giữ tên châu Bố Chính, đổi tên châu Địa Lý thành Lâm Bình, châu Ma Linh thành Minh Linh, tất cả sau này là vùng đất Quảng Bình. Người dân Đại Việt bắt đầu được khuyến khích vào vùng đất mới khai khẩn ruộng nương, lập làng mạc sinh sống.

Qua đời nhà Trần, vào năm 1306, để tạo hòa hiếu và cũng để tránh nạn binh đao, vua Chiêm là Chế Mân xin cưới công chúa Huyền Trân và dâng đất hai châu ở liền nhau là châu Ô và  châu Lý làm quà sính lễ. Lần đầu tiên trong lịch sử Viêt có cuộc hôn nhân đổi đất là do quyrết định táo bạo của vua Trần và sự hy sinh của công chúa Huyền Trân. Ẩn sau đó là sức ép mở rộng lãnh thổ để đáp ứng đời sống cho dân Việt phát triển ngày càng đông. Năm sau, vua Trần Anh Tông đổi tên hai châu này thành châu Thuận và châu Hóa. Sau này hai châu được gom lại thành phủ Thuận Hóa.

Đời nhà Hồ, quân Chiêm quấy nhiễu vùng biên cương, Vua Hồ Quý Ly đem đại binh đánh Chiêm thắng lợi. Vua Chiêm phải dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy. Vua Hồ thu nhận và đặt thành bốn châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Nhưng đến thời kỳ nhà Hồ mất ngôi, đất nước thuộc nhà Minh thì Chiêm Thành thừa cơ lấy lại đất của bốn châu này về nước họ.

Đời Hậu Lê, năm 1471, vua Chiêm là Trà Toàn xua mười vạn quân Chiêm đánh phá vùng biên giới Hóa Châu, lại không nạp cống. Vua Lê Thánh Tông tức giận thân chinh đem hai mươi vạn quân đi chinh phạt. Kinh đô Chà Bàn của Chiêm thời bấy giờ bị mất, Trà Toàn bị bắt. Lê Thánh Tông không rút hết quân về mà để lại một số ở Chà Bàn. Vua có dụ: “Chiêm Động và Cổ Luỹ trước là đất của ta, thời nước ta thuộc Minh bị mất về nước Chiêm Thành, nay ta lấy lại được hết. Ai dám không theo lệnh thì chém trước tâu sau”. Đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa lấy lại  lúc này cùng đất Chà Bàn mới chiếm, vua Lê Thánh Tông cho lập Thừa Tuyên thứ 13 của Đại Việt, đặt tên là Quảng Nam.

Sau chiến tranh, vua Lê lập nước Hóa Anh từ đèo Cù Mông đến Thạch Bi sơn, ở sát biên cương Đại Việt, giao cho tướng Chiêm đã đầu hàng làm vua. Nước Nam Bàn (J’Rai) ở vùng Thượng đạo cũng được thành lập do hai vua Thủy Xá và Hỏa Xá cai quản. Trà Toàn chỉ được làm vua nước Chiêm trên phần đất còn lại. Như vậy giữa Đại Việt và Chiêm Thành của ông ta có hai nước nhỏ ngăn cách, trở thành vùng đệm giữ an ninh cho lãnh thổ Đại Việt.

***

Khi Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa thì nơi đây vốn là một vùng đất đa số là đồi núi, đồng ruộng thì nhỏ hẹp ít màu mỡ, thiên nhiên lại thường gây bão lũ khắc nghiệt, không có nhiều triển vọng về phát triển kinh tế. Đất Thuận Hóa lại giáp đất Quảng Nam phía dưới đó là biên giới với Chiêm Thành, vốn không lúc nào được yên ổn.

Chị ruột của Nguyễn Hoàng là Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm, lâu nay vẫn lo sợ cho đứa em trai còn lại, muốn em mình được an toàn nên ủng hộ em. Bà nói với chồng:

– Đoan Quận công tính khí không bình thường nên xin vào Thuận Hóa đầy gian nan không phải là chuyên lạ. Thôi thì cứ chiều theo ý nó, kẻo sau này nó lại trách vợ chồng ta.

Trịnh Kiểm đồng tình:

– Đến Ô Châu ác địa thì có khác gì tự mình đi đầy. Nó quả là một đứa điên dại thật.

Thực tâm, Trịnh Kiểm đã nghĩ khách quan hơn: “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân lính và của cải do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoan quận công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam”.

Ông nghĩ thêm: “Dù sao thì vào đấy, nó sẽ không còn cơ hội nào để tranh chấp quyền hành với ta nữa. Nó cũng sẽ có thể bị quân của giặc Mạc đi đường biển xuống đánh, ta càng có lợi”.

Thế là Nguyễn Hoàng sớm được Thái sư đồng ý tâu vua và vua Lê Anh Tông phê duyệt. Vua Lê còn giao cho Nguyễn Hoàng “Phàm mọi việc ở địa phương không kể to nhỏ đều cho tùy tiện xử lý”.

Không để chậm trễ, giữa mùa đông giá rét năm 1558, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng mới ba mươi bốn tuổi, cùng gia quyến và tùy tùng vội vã lên thuyền giong buồm theo đường biển vào Thuận Hóa để trấn giữ vùng đất dữ phía nam Hoành Sơn. Cùng đi với ông có một số quan cai quản ở Tống Sơn và nhiều người dân ở trấn Thanh Hoa, Nghệ An muốn tìm cuộc sống mới.

Dưới biển là những chiếc thuyền buồm, ghe bầu đi theo đoàn. Trên bộ là từng nhóm người gánh gồng, dìu dắt, bồng bế nhau vượt đèo Ngang. Nước Đại Việt sau bao năm mới có cuộc di dân chính thức đông đảo đến hàng ngàn người cùng lúc như thế!

Tiểu thuyết lịch sử ” Kiếm Hoa” – Khôi Vũ

Đoàn thuyền của Nguyễn Hoàng tấp vào cửa Việt Yên thuộc phủ Triệu Phong của Thuận Hóa. Đến Ái Tử thì quan Trấn thủ cho dựng dinh để làm việc. Người dân tại đây đã đón tiếp quan trấn thủ rất trọng thị dù họ chỉ là những nông dân nghèo khổ. Họ dâng lên ông 7 chiếc vò lớn đựng đầy nước mưa, mang ý nghĩa dâng “nước” để lập quốc. Nguyễn Ư Dĩ nói với cháu: “Đến một vùng đất mới mà được dân tình dâng nước, ấy là điềm đại cát!”.

Quan Lưu thủ Thuận Hóa là Tống Phước Trị, người cùng quê Nguyễn Hoàng đã đến dâng bản đồ, sổ sách và theo phò tá ông. Thuận Hóa lúc ấy có hai phủ gồm 9 huyện và 3 châu. Hai phủ là Tiên Bình và Triệu Phong. Trong phủ Tiên Bình có 3 huyện là Khang Lộc, Lệ Thủy, Minh Linh cùng châu Bố Chính. Phủ Triệu Phong có 6 huyện và 2 châu.

***

Hơn mười năm vượt qua bao gian khó cùng sự khắc nghiệt của thiên nhiên, Nguyễn Hoàng cảm thấy yên tâm vì đã tạm ổn định được việc cai trị và lo cho đời sống của dân mình. Thời gian mới vào, Nguyễn Hoàng nắm tình hình dân cư cũ và chia số người theo mình thành nhiều nhóm đến sống ở các làng mạc sẵn có. Họ được cấp nông cụ, một ít lương thực… đến bổ sung lực lượng khai khẩn đất để làm nghề nông, ngoài ra còn cùng người cũ phát triển các làng nghề chuyên như làm ghe thuyền, đan lát dụng cụ bằng tre nứa, khai thác quặng sắt, làm nghề rèn, nghề đúc, khai thác gỗ, làm giấy, dệt tơ…

Nguyễn Hoàng căn dặn các thuộc hạ:

– Đất Nam Hà của ta không có nhiều mỏ như Bắc Hà. Ta chỉ có mỏ sắt và mỏ vàng nên phải khai thác chắt chiu. Dân ta ở đây có nghề làm các loại đường nổi tiếng, cần phát huy.  Đặc điểm là ta có biển trải khắp chiều dài lãnh thổ nên ngư nghiệp là quan trọng. Bên cạnh đó nên quan tâm nghề đóng thuyền. Thủy binh cũng cần thuyền các loại để sẵn sàng chiến đấu khi có biến. Chiến thuyền cần phải trang bị súng thần công nên về lâu dài ta sẽ lo liệu việc lập một xưởng đúc súng…

Quân đội thời kỳ đầu được tạm thời giữ như ở Bắc Hà, có nhiệm vụ giữ gìn an ninh lãnh thổ. Thuận Hóa trở thành vùng đất tương đối yên tĩnh, hầu như nhà không phải đóng cửa, dân không trộm cắp của nhau… Tất cả lo chí thú làm ăn vì đó là con đường sống duy nhất của họ.

Về chuyện riêng, nỗi lo bị anh rể bức hại của Nguyễn Hoàng cũng theo năm tháng mà vơi bớt nhiều phần. Mấy lần chị Ngọc Bảo có thư nhờ người chuyển vào hỏi thăm, Nguyễn Hoàng đều trả lời mọi việc rất ổn. Cũng mấy lần người chị nhắc em trai nên ra Thanh Hoa chầu vua Lê và thăm anh rể.

Năm 1569, sau thời gian dài chỉ liên hệ với miền Bắc thông qua các quan lại, sợ bị vua Lê và anh rể nghi ngờ mình có ý ly khai, dù có nhiều lời can ngăn, Nguyễn Hoàng vẫn quyết định ra Thanh Hoa chầu vua Lê Anh Tông.

Vua vui mừng, nghĩ: “Thế mà có những lời đồn đầy ác ý rằng Nguyễn Hoàng sẽ làm phản”.

Nhân dịp này, Nguyễn Hoàng cũng đến lạy mừng Thượng tướng Thái quốc công Trịnh Kiểm. Kiểm lấy làm hài lòng, lạc quan nghĩ: “Thì ra nó vẫn khiếp sợ oai ta”.

Nhân dịp rút quan Trấn thủ Quảng Nam về trông coi Nghệ An, Kiểm giao cho Nguyễn Hoàng trấn giữ thêm vùng đất phía dưới Thuận Hóa này, cũng chính là vùng đất biên cương với nước Chiêm Thành. Nguyễn Hoàng được vua Lê phong là Tổng trấn Tướng quân. Đây là một sai lầm nghiêm trọng vào cuối đời của Trịnh Kiểm do đánh giá sai về tài năng của em vợ. Ông đã vô tình tạo điều kiện cho Nguyễn Hoàng được như “hổ mọc thêm nanh”.

Không còn gì vui mừng hơn, Nguyễn Hoàng cung kính nhận lệnh rồi bái biêt về Nam. Từ đó vùng lãnh thổ của Nguyễn Hoàng cai quản được mở rộng thêm và được gọi chung là Thuận Quảng (Thuận Hóa và Quảng Nam). Dân số Thuận Quảng lúc này vào khoảng một triệu người so với bốn triệu ở phúa bắc Hoành Sơn. Nguyễn Hoàng cho dời dinh từ Ái Tử qua Trà Bát cách đó không xa.

***

Ở xứ Nghệ, dưới quyền cai trị của quan lại vua Lê chúa Trịnh, đứa trẻ Mạc Huy lớn lên trong gia cảnh bình thường của cha mẹ. Nó ra đời từ một người cha yếu đuối, một người mẹ khổ cực nên chỉ là một đứa trẻ ốm yếu, tính tình bạc nhược, dễ tổn thương. Mười hai tuổi thì Mạc Huy chịu tang cha khi ông Mạc Ký vừa mừng tuổi thọ sáu mươi. Bà mẹ cũng đã trên năm mươi, sống đời góa bụa, sức khỏe tuy kém mà vẫn cố làm lụng nuôi con. Trời thương cho bà sống tới khi Mạc Huy trưởng thành, đã biết lao động kiếm sống mà bà mới chỉ bắt đầu bước vào những ngày tháng tuổi già thực sự. Người mẹ nói với con trai:

– Cha con muốn con sẽ là người đưa gia đình ta vượt đèo Ngang vào Nam. Ông tin rằng chỉ có thế thì nhà ta mới hoàn toàn đổi đời được…

Mạc Huy khẽ lắc đầu:

– Bây giờ thì chưa được đâu mẹ. Mẹ đã già, suốt đời hy sinh nuôi chồng rồi nuôi con, nay ở tuổi gần sáu mươi mà đi xa, đường đi lại đầy gian khổ thì mẹ chịu sao được. Con sẽ vẫn ở đây nuôi mẹ đến khi mẹ trăm tuổi mới tính chuyện ra đi…

Nghe con nói vậy, người mẹ già đành gật đầu và ngỏ ý muốn sớm có cháu bồng. Mạc Huy kết hôn với một thôn nữ xứ Nghệ. Năm sau sinh được đứa con trai, đặt tên là Mạc Long. Bà nội bồng ẵm cháu được hơn năm thì cũng theo chồng về chốn suối vàng.

Vợ chồng Mạc Huy còn sinh thêm một đứa con gái, kém anh ba tuổi. Đến lúc này thì Mạc Huy mới bàn chuyện vào Nam.

– Ta năm nay mới hai mươi tư tuổi, tuy không được khỏe mạnh như nhiều người đàn ông khác, nhưng cũng không đến nỗi quá yếu đuối. Đây cũng là tuổi tốt nhất để lập nghiệp. Ta tính đợi đến khi em gái Mạc Long được năm sáu tuổi, ta thì vừa “tam thập nhi lập”, gia đình ta sẽ vào Nam. Từ nay đến lúc ấy, vợ chồng mình phải chuẩn bị chu đáo mọi thứ cho chuyến đi xa…

Nhưng vợ ông lại không muốn xa quê xứ Nghệ, cương quyết không đi.

– Ở đây còn mồ mả cha mẹ ông. Tôi thì có họ hàng, xóm làng giúp đỡ. Vào Nam để sống thân cô thế cô, tự nuôi sống nhau được không? Nếu cần thiết phải đi thì ông cứ đi với đứa con trai. Tôi sẽ ở lại với con gái.

Mạc Huy sinh ra thân thể nhỏ nhắn, lớn lên không những dáng vẻ thư sinh mà tính tình cũng hiền lành, ra ngoài khiêm nhã với mọi người, trong nhà luôn nhường nhịn vợ. Nghe lời vợ nói đầy bực bội và cương quyết, ông dịu giọng:

– Vậy thì cả gia đình mình ở lại…

Người đàn ông trẻ tuổi nhu nhược kín đáo thở dài, mắt liếc nhìn qua con trai Mạc Long. Thằng bé hồn nhiên cười đùa với em gái nhỏ…

Từ đó vợ chồng Mạc Huy không nói đến chuyện vào Nam nữa. Họ chuyên tâm làm ăn, nuôi dạy anh em Mạc Long.

KHÔI VŨ

(Còn tiếp)

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com