Kiếm hoa – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 3

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 21:46

 Để làm dịu tình hình, Nguyễn Hoàng đã viết thư nhận lỗi, lấy thóc lúa vàng bạc sai người đem ra Bắc cống nộp cho Trịnh Tùng, lại hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa đông năm 1600, Nguyễn Hoàng đã gả con gái là Ngọc Tú cho con cả của Trịnh Tùng là Trịnh Tráng. Đây là cuộc hôn nhân bị nhiều người đương thời phản đối vì là cháu lấy cô họ.

Nhà văn Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải ở Đồng Nai

 

Chính truyện

Phần I

 

Xa quê

Quê hương mang nặng nỗi lòng

Trên miền đất khó những trông một ngày

Lịch sử ghi lại rằng:

Vua Lê Anh Tông (Tên thật là Lê Duy Bang, trị vì từ năm 1557) vốn không ưa gì sự lộng quyền của Trịnh Tùng (Thay quyền cha là Trịnh Kiểm cầm quân từ năm 1570 nhưng chưa xưng Vương), Trong lòng Anh Tông luôn muốn loại bỏ Trịnh Tùng. Họ Trịnh biết điều đó và biết nhà vua thân với một đại thần là Lê Cập Đệ nên quyết định loại bỏ Cập Đệ trước để đe dọa Anh Tông. Trịnh Tùng cho phao tin là Cập Đệ làm phản đáng tội chết rồi giết đi.

Sau khi Lê Cập Đệ bị giết, Lê Anh Tông sợ có chuyện chẳng lành nên đem bốn hoàng tử lớn từ Thanh Hoa chạy vào Nghệ An. Trịnh Tùng liền đưa hoàng tử thứ năm là Lê Duy Đàm mới bảy tuổi lên ngôi, tức là vua Lê Thế Tông (1573). Sau đó, Trịnh Tùng cho người vào Nghệ An truy bắt Lê Anh Tông, nói thác là đón vua về cung. Lê Anh Tông trốn vào ruộng mía. Quan quân đến, đứng vây quanh ruộng. lấy lời năn nỉ, xin vua trở về để lòng dân được yên. Lê Anh Tông tin lời bèn xuất hiện và được đón quay về. Trịnh Tùng tiếp đãi vua chu đáo. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, Trịnh Tùng sai thủ hạ là Tống Đức Vi ngầm giết chết vua rồi nói rằng nhà vua thắt cổ tự tử. Năm ấy Lê Anh Tông bốn mươi hai tuổi, ở ngôi được mười sáu năm. Vua được táng ở lăng Bố Vệ.***

Năm 1570, Trịnh Kiểm qua đời, thọ 68 tuổi.

Hai con trai của Kiểm là Trịnh Cối và Trịnh Tùng đánh giết lẫn nhau để giành quyền lực. Cối là con trưởng nhưng Tùng có tài hơn. Nhân cơ hội này, vua Mạc là Mạc Mậu Hợp (lên ngôi năm 1564) liên tiếp mở nhiều cuộc tấn công vào Thanh Hoa, Nghệ An. Trong khoảng hơn mười năm từ 1570 đến1583, nhà Mạc đem thủy quân đánh Nam triều tất thảy mười ba lần. Đúng như Trịnh Kiểm từng dự đoán, vào năm 1572 quân Mạc theo đường biển đánh vào phía Nam, vùng đất sau Thanh Hoa, Nguyễn Hoàng đem quân Thuận Hóa chống lại, dùng kế giết được tướng Mạc là Mạc Lập Bạo. Ý đồ mượn tay nhà Mạc trừ khử em vợ của Trịnh Kiểm lúc ông còn sống đã bất thành. Từ năm 1583 trở đi nhà Mạc mất hẳn phía Nam và chỉ còn kiểm soát phần đất phía Bắc của mình.

Trịnh Cối đem quân đánh nhau với quân của em và bi thua, phải bỏ chạy qua đất nhà Mạc xin hàng. Vua Mạc cưu mang, phong chức cho. Sau, Cối mất, vua Mạc trả xác về cho họ Trịnh.

Cuối năm 1583, xem như Trịnh Tùng loại được Trịnh Cối và được vua Lê Anh Tông phong làm Tiết Chế Trưởng Quốc Công, ông đã quyết định thống lĩnh bảy vạn quân kéo ra Bắc đánh Mạc. Quân Trịnh đánh rất hăng, quân nhà Mạc thua to, chết hàng vạn người. Mạc Mậu Hợp bỏ chạy về kinh thành Thăng Long. Trịnh Tùng đuổi theo nhưng gặp tết Nguyên Đán nên dừng lại cho quân sĩ nghỉ ngơi dưỡng sức. Năm ấy là năm Nhâm Thìn 1592. Ăn tết xong, Trịnh Tùng đốc thúc tướng sĩ đánh thành Thăng Long. Quân Mạc không giữ được thành, Mạc Mậu Hợp phải chạy trốn. Trịnh Tùng sai người san phẳng thành lũy rồi cho rút quân về Thanh Hoa vì lẽ “Đất cơ bản của Mạc Mậu Hợp là phía đông bắc. Nay tuy y bại trận ở đây nhưng viện binh ở các nơi khác hãy còn nhiều”.

Mạc Mậu Hợp cho người tìm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để vấn kế. Trạng nói: “Tha nhựt quốc hữu sự cố, Cao Bằng tiểu địa, sổ thế khả duyên” (Nghĩa: Sau này quốc gia hữu sự thì đất Cao Bằng tuy nhỏ bé cũng có thể dung thân được vài đời).

Cũng do nỗi buồn thất trận nên vua Mạc chìm đắm trong tửu sắc và vì vậy đã phạm phải sai lầm chết người. Mạc Mậu Hợp vốn là con rể của lão tướng Nguyễn Quyện, thấy em vợ Nguyễn Thị Niên là vợ của tướng Bùi Văn Khuê dưới trướng mình là người xinh đẹp nên muốn chiếm đoạt. Nguyễn Thị Niên báo cho chồng biết, còn thêm:

–  Vua còn muốn giết tướng công.

Bùi Văn Khuê rất tức giận. Ông lắc đầu than: “Đây là vua bức ta vào thế phải tự vệ”.

Bùi Văn Khuê sai con trai trốn vào Thanh Hoa xin hàng vua Lê. Trịnh Tùng thuận cho vì biết Khuê là tướng thủy quân giỏi nhất bên Mạc. Trong năm 1592, Trịnh Tùng phát động nhiều cuộc tấn công vào thủy quân nhà Mạc và giành nhiều thắng lợi.

Mạc Mậu Hợp liên tiếp thất bại nên bỏ chạy về Hải Dương. Kinh thành Thăng Long lại rơi vào tay quân Trịnh. Mạc Mậu Hợp tạm trao ngôi vua cho con trai rồi tự mình dẫn quân đi đánh Trịnh Tùng, quyết một trận được mất. Trịnh Tùng sai tướng chặn đánh quân Mạc. Mạc Mậu Hợp thua to phải bỏ thuyền chạy lên bộ, ẩn trong một ngôi chùa tại Bắc Giang. Trịnh Tùng sai người tìm bắt được, giải Mậu Hợp về Thăng Long, sau đó chém đầu tại bến Bồ Đề.

Như vậy nhà Mạc khởi từ Mạc Đăng Dung trải đến đời thứ năm là Mạc Mậu Hợp thì chấm dứt sự cai trị ở kinh đô Thăng Long, trước sau tồn tại được sáu mươi lăm năm (1527-1592). Vua Lê từ Tây Đô (Thanh Hoa) trở lại kinh thành. Nhà Lê Trung hưng bắt đầu chính vị tại Thăng Long.

Cuộc nội chiến Bắc triều – Nam triều diễn ra từ vùng đồng bằng đến miền núi Cao Bằng, khiến một vùng Nghệ An là chiến trường chính trở nên hoang vắng “trăm dặm không một bóng người”. Tổng cộng có ba mươi tám trận chiến lớn nhỏ giữa hai bên Lê – Mạc đã gây thiệt hại về nhà cửa, ruộng vườn và tính mạng binh lính cùng người dân. Một bài ca dao được lưu truyền từ dạo ấy:

Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

***

Năm 1593, một năm sau khi vua Lê được Trịnh Tùng đưa về Thăng Long, Trấn thủ Thuận Quảng Nguyễn Hoàng bước vào tuổi sáu mươi tám. Sau nhiều ngày suy nghĩ, ông nói với con trai Nguyễn Phúc Nguyên:

– Ta phải ra Thăng Long một chuyến thôi.

– Con hiểu ý cha. Cha muốn ra bái yết vua Lê vừa chuyển từ Thanh Hoa về Thăng Long sau khi nhà Mạc phải chạy về Cao Bằng. Nhưng, chuyến đi có nhiều nguy hiểm rình rập. Cha cũng đã cao tuổi, sức khỏe chưa biết thế nào. Tốt nhất, cha chỉ cần sai người ra thay mình là được… Nếu cần thì con sẽ đi thay cha…

Nguyễn Hoàng lắc đầu:

– Không được đâu. Việc này không ai có thê thay ta được. Ta đi, con ở lại dinh Trà Bát thay ta lo chu toàn mọi việc theo nền nếp trước nay là ổn. Ta tuy tuổi cao nhưng vẫn còn khỏe mạnh, trí óc còn minh mẫn đủ sức đối phó với các tình huống…

– Con vẫn cứ linh cảm sẽ có việc gì đó sẽ xảy ra…

– Ta nghĩ khác. Ở tuổi này, có gì xảy ra với ta cũng chẳng sao. Con đã từng đánh tan hải tặc Nhật Bản, đã vào tuổi “tam thập nhi lập”, đủ sức để trông coi Thuận Quảng thay ta. Nếu con ra Thăng Long mà có chuyện chẳng lành thì mới là nỗi lo lớn cho ta…

Nhiều quan tướng cũng góp lời khuyên can nhưng Nguyễn Hoàng đã quyết. Ông sai một số người thân cận cùng đi ra Thăng Long với sổ sách về binh lương, nhiều món quà giá trị để tiến vua, lại đem thêm một số quân lính.

***

Vua Lê Thế Tông còn trẻ, mới hai mươi sáu tuổi, được Trịnh Tùng đưa lên ngôi từ khi bảy tuổi nên phụ thuộc hoàn toàn vào họ Trịnh. Từ Tây Đô Thanh Hoa về ngồi ngai vàng ở Đông Đô Thăng Long một năm nay cũng nhờ một tay Trịnh Tùng nên vua càng không dám làm gì trái ý họ Trịnh. Sau khi nhận lễ của Nguyễn Hoàng, vua lúng túng trước vị quan Trấn thủ tuổi cao, lại ở vai cậu của Trịnh Tùng:

– Quan Trấn thủ… hãy ở lại Thăng Long ít ngày rồi sẽ về…

Trịnh Tùng trừng mắt:

– Sao lại có thể về Thuận Quảng khi trên đất Bắc Hà này, tàn dư giặc Mạc vẫn còn hoành hành… Ta thấy Trấn thủ vẫn còn khỏe mạnh lắm, vậy hãy ở lại điều quân ra đánh dẹp bọn Mạc ở Cao Bằng. Ấy mới là tận tình giúp vua giúp nước…

Lê Thế Tông chỉ biết gật gù:

– Phải lắm! Hãy ở lại Thăng Long rồi gọi quân ra cùng Trịnh tướng quân đi dẹp giặc Mạc…

Đến lúc này Nguyễn Hoàng mới thấy sự lo lắng của con trai là đúng đắn. Ông nghĩ: “Trịnh Tùng cần ta giúp dẹp giặc Mạc thực sự hay đây là mưu của hắn muốn giữ chân ta ở lại đất Bắc Hà? Rồi hắn sẽ tìm cách lấy lại đát Thuận Quảng?”.

Trịnh Tùng dâng biểu xin vua Lê Thế Tông phong cho Nguyễn Hoàng là Trung quân đô đốc phủ tả đốc chưởng phủ sự thái úy Đoan quốc công. Nguyễn Hoàng ở thế không thể chống lệnh vua. Ông cho người về Trà Bát điều thêm quân ra Bắc Hà, đồng thời dặn dò, phân công các quan lo việc nước, việc dân trong Thuận Quảng thay mình.

***

Trong nhiều năm liền bị giữ lại Bắc Hà, Nguyễn Hoàng cầm quân chinh chiến dẹp tàn dư nhà Mạc. Ông đánh thắng hai tướng Mạc là Kiến và Nghĩa ở trấn Sơn Nam. Đánh thắng Mạc Kính Chương, Mai Ngọc Liễn ở Hải Dương. Mạc Kính Dụng tự xưng là Uy Vương ở Thái Nguyên cũng bị Nguyễn Hoàng dẹp yên. Phần nội bộ nhà Lê, tướng nhà Lê là Vũ Đức Cung làm phản cũng mau chóng bị ông trừng trị.

Từ năm 1595, Trịnh Tùng bắt đầu tự lấy tước Bình An Vương, chính thức hình thành giai đoạn vua Lê – chúa Trịnh trong lịch sử. Sau đó, hai lần Nguyễn Hoàng theo vua Lê Thế Tông lo việc thông hiếu với nhà Minh thành công.

Năm 1598, Nguyễn Hoàng còn dẹp loạn thổ phỉ ở Thủy Dường, Hải Dương.

***

Sau tám năm ở trên đất Bắc Hà, Nguyễn Hoàng đã lập nhiều chiến công, hai người con trai thứ nhì và thứ tư của ông bị chết trận.  Chúa Trịnh Tùng ganh ghét, tìm mọi cách giữ ông lại đất Bắc, không cho trở về Thuận Quảng. Vua Lê cũng không khen thưởng gì ông vì lệ thuộc vào Trịnh Tùng, người mà ngày càng lạt lẽo tình cậu cháu với Nguyễn Hoàng. Đến lúc này thì Nguyễn Hoàng đã quá rõ âm mưu của chúa Trịnh.

Việc trong Nam Hà vẫn cần đến lệnh của Nguyễn Hoàng.

Chẳng là vào năm 1578, do người Chiêm ở Hóa Anh qua lấn cướp, Nguyễn Hoàng được báo đã viết lệnh cử Lương Văn Chánh vào đánh tận thủ phủ của Hoa Anh. Sau đó chiêu mộ dân vào khai khẩn nơi đất hoang thưa người vì phần lớn dân Chiêm ở đây đã vào sinh sống tại nước Chiêm Thành của Bố Trì Trì ở phía nam hay lùi lên vùng núi cư trú cùng các tộc người khác trong nước Nam Bàn.

Tranh minh họa

Năm 1597, từ Bắc Hà Nguyễn Hoàng gửi công văn vào chỉ đạo: “Dạy Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh đã giữ việc quân lâu ngày có công trạng, quyền coi huyện Tuy Viễn, trấn An Biên rằng:Hãy liệu đem số dân xã Bà Thê đã trục vào hạng dân và các thôn phường khách hộ theo hầu công việc, lấy riêng số dân khách hộ các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Niễu, trên từ nguồn mọi dưới đến cửa biển, kết lập gia cư địa phận, khai khẩn ruộng đất hoang cho tới khi thành thục sẽ nạp thuế như lệ thường. Nhược bằng vì việc mà nhiễu dân, điều tra ra sẽ bị xử tội”.

Thực tế vừa phải đối phó ở Bắc Hà, vừa phải lo toan chuyện Nam Hà khiến Nguyễn Hoàng quyết định: “Ta phải tìm cách trốn về Nam thôi”.

Vậy mà phải mãi đến năm 1600, Nguyễn Hoàng mới nghĩ ra kế nhân dịp hàng tướng Bùi Văn Khuê cùng hai tướng khác là Phan Ngạn và Ngô Đình Nga chống lại nhà Lê để trở lại với nhà Mạc. Nguyễn Hoàng liền đến xin vua Lê:

– Xin hãy dể thần đem quân đi Dại An tiễu trừ bọn phản nghịch.

Lê Thế Tông hỏi ý kiến chúa Trinh. Để lấy lòng tin của chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng gửi một người con trai và một đứa cháu của mình ở lại phủ chúa. Bây giờ Trinh Tùng mới đồng ý:

– Bọn Khuê. Ngạn, Nga từ Mạc qua đầu hàng ta, nay lại phản ta về lại với Mạc, bọn chúng đáng phải bêu đầu. Tướng quân cứ mạnh tay tiêu diệt chúng, không tha bất cứ tên nào.

Nguyễn Hoàng vui mừng đem quân đi dẹp loạn. Nhưng ông lại dẫn quân theo đường sông thẳng ra biển rồi về Nam. Người thân và cận thần của Nguyễn Hoàng, ai cũng vui mừng đón ông trở lại. Mừng nhất là ông đã ở tuổi bảy lăm mà vẫn khỏe mạnh.

Tiếp tục trực tiếp cai quản Thuận Quảng, quan Trấn thủ cho dời dinh Trà Bát về Cát Dinh, vị trí cũng gần dinh Ái Tử ngày trước.

Sau khi Nguyễn Hoàng trở về Nam, Trịnh Tùng bực tức gửi thư dọa trách ông:

“Mới đây bọn nghịch thần Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga manh tâm bội phản, cháu và cậu đã lo liệu việc binh, sai đi đánh dẹp, chẳng ngờ cậu không đợi mạng, tự ý bỏ về, làm dao động nhân dân, không biết ấy là ý của cậu, hay là mắc kế bọn kia… Cậu, trong việc binh, thường lưu tâm đến kinh sử, xin hãy xét nghĩ lại, đừng để hối hận về sau”.

Để làm dịu tình hình, Nguyễn Hoàng đã viết thư nhận lỗi, lấy thóc lúa vàng bạc sai người đem ra Bắc cống nộp cho Trịnh Tùng, lại hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa đông năm 1600, Nguyễn Hoàng đã gả con gái là Ngọc Tú cho con cả của Trịnh Tùng là Trịnh Tráng. Đây là cuộc hôn nhân bị nhiều người đương thời phản đối vì là cháu lấy cô họ.

Dù sao thì sự bất hòa và đề phòng lẫn nhau giữa Nguyễn Hoàng và Trịnh Tùng cũng bắt đầu chính thức hiển lộ rõ từ đây.

***

Trấn thủ đất Thuận Quảng Nguyễn Hoàng không hề là người ngây dại như khi còn ở Tây Đô mà ông giả sống như thế để qua mắt anh rể Trịnh Kiểm. Thực chất ông là người có tài cai trị dân, điều khiển quan lại, chỉ huy quân lính, lại khéo thu phục lòng người. Trải qua mấy mươi năm với nhiều gian khó, ông cùng quân dân của mình tạo dựng được cuộc sống tạm yên ấm, no đủ ở nơi mà Trịnh Kiểm gọi là Ô Châu ác địa.

Hai năm sau khi trở về Nam, một hôm Nguyễn Hoàng cho gọi Nguyễn Phúc Nguyên cùng mình đàm đạo. Hai cha con lâu nay vốn ý hợp tâm đầu, chuyện gì cũng có thể thổ lộ quan điểm, chính kiến của mỗi người dù đôi khi cũng chưa thật giống nhau, rồi đi đến thống nhất.

– Ta sẽ cho thành lập dinh Thanh Chiêm ở xứ Quảng. Thanh Chiêm sẽ là trung tâm điều hành phát triển kinh tế của Nam Hà chúng ta, nhất là thương cảng Hội An. Nam Hà ta quân còn ít, tuy có thủy binh mạnh nhưng chỉ có cách để hơn Bắc Hà là trang bị vũ khí của người phương Tây. Cũng phải dựa vào giao thương với họ để thu thuế sung công quỹ lo các đại sự. Thanh Chiêm cũng sẽ bảo đảm an ninh cho trấn Quảng Nam đề phòng sự quấy nhiễu của Chiêm Thành.

– Nhưng việc ấy thì liên quan gì đến con?

– Liên quan chứ! Ta đang trấn hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam thì dinh Thanh Chiêm chính là thủ phủ thứ nhì của đất Nam Hà. Đây sẽ là nơi đào luyện người lãnh đạo thay thế ta sau này. Qua các thế hệ sau cũng sẽ như vậy.

– Con vẫn chưa hiểu hết ý của phụ thân…

– Thằng ngốc hay giả vờ ngốc vậy hả? Ý ta muốn cử con vào trấn thủ Thanh Chiêm, muốn con sẽ tiếp nối sự nghiệp của ta một cách xứng đáng và vững vàng…

– Thưa phụ thân con đã hiểu. Con sẽ cố gắng làm tốt nhất những việc cha giao…

***

Khi Nguyễn Hoàng cai quản Thuận Quảng đươc tròn năm mươi năm thì ở miền Bắc xảy ra nạn đói khiến nhiều người dân lâm vào thảm cảnh chết chóc hoặc gia cảnh kiệt quệ. Trong khi đó ở Thuận Quảng trời lại thương ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng thu hoạch khá, dân được no ấm. Thế là người dân ngoài Bắc rủ nhau vượt Dèo Ngang chuyển vào Nam.

Lúc bấy giờ ở triều đình vua Lê có một viên tướng là Nguyễn Triều Văn vốn người Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung,  trấn Thanh Hoa. Ông nhận thấy chúa Trịnh Tùng ngày càng lấn quyền vua Lê nên tỏ ra bất mãn nhưng cũng như nhiều quan tướng khác, ông chỉ ngấm ngầm giữ kín trong lòng chứ không dám nói ra, càng không dám có hành động nào chống đối vì ngại sẽ bị chúa Trịnh với thế lực hùng mạnh ở Thăng Long bức hại trong khi mình đang cô thế.

Nhân đợt di cư ào at của Lê dân sau nạn đói qua Đèo Ngang tìm kế sinh nhai, Nguyễn Triều Văn nhận ra đây chính là cơ hội tốt để thực hiện ý định của mình.

Cùng những đoàn người dân phía bắc dãy Hoành Sơn, Nguyễn Triều Văn đưa gia đình trốn vào Nam. Ở Thăng Long, khi chúa Trịnh Tùng phát hiện ra sự vắng mặt của Nguyễn Triều Văn thì ông này đã có mặt ở phía nam Hoành Sơn. Triều Văn cùng gia đình dừng chân ở vài nơi thăm dò trước khi chọn nơi định cư. Ba mươi lăm tuổi, lại từng làm quan trong trìều vua Lê – chúa Trịnh, Nguyễn Trièu Văn đủ lịch lãm để chọn đất ở. Ông tìm đến làng Vạn Toàn, tổng Hành Phổ thuộc huyện Khang Lộc, thấy nơi đây đã có làng mạc, được khai khẩn bởi vài họ tộc. Quanh làng có dãy đá tự nhiên mọc như thành lũy, lại có nhiều bến nước dẫn ra sông Kiến Giang, ra phá Hạc Hải.

“Địa hình đất này thượng sơn hạ thủy, vừa tiện lợi cho sinh sống, vừa tốt cho việc binh. Sấm ký của Trạng Trình còn nói: “Thượng chí An Mã, hạ chí Đùng Đùng, trung trung nhất huyệt” (Trên đến An Mã, dưới đến Đùng Đùng – Hạc Hải, giữa có địa huyệt phát tích đế vương). Chính là nơi đây”. Triều Văn suy tính rồi quyết định chuyển đến ở cuối làng Vạn Toàn. gần một rẫy cây dầu có thể ép quả lấy dầu thắp lửa.

Có chỗ ở ổn định rồi, Nguyễn Triều Văn tìm đến Cát Dinh, xin được phò Nguyễn Hoàng.

Theo phả hệ họ Nguyễn thì Nguyễn Triều Văn là cháu đời thứ mười bảy của Định Quốc công Nguyễn Bặc. khai quốc công thần  thời nhà Đinh, là cháu bảy đời của Nguyễn Trãi thời Hậu Lê. Cũng theo phả hệ này thì cha con Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng cũng đều là con cháu Nguyễn Trãi, nhưng chi Nguyễn Hữu của Triều Văn là chi trên, còn chi Nguyễn Kim là chi dưới. Có nghĩa là họ vốn có họ hàng thân thuộc với nhau. Điều ấy cũng giải thích vì sao Nguyễn Triều Văn dễ dàng được Nguyễn Hoàng thu nhận và tin dùng. Ông được cho phục vụ dưới trướng của Thụy Quận công Nguyễn Phúc Nguyên, con trai thứ sáu của Nguyễn Hoàng, và được bổ chức Tham tướng.

***

Cùng hoàn cảnh như Nguyễn Triều Văn, một số quan lại và dân chúng ở miền Bắc bất mãn với sự chuyên quyền của chúa Trịnh và sự nhu nhược của vua Lê, cũng đã bỏ trốn vào Nam làm dân của Nguyễn Hoàng khá đông. Sau chuyến đi trốn của Nguyễn Triều Văn, chúa Trịnh tăng cường giám sát các quan lại nên ít người còn có cơ hội ra đi.

Nhưng với dân thường thì khác. Nhiều năm sau, dân Bắc Hà vẫn tiếp tục tìm vào Nam. Trong những đợt di dân tiếp theo này, khoảng năm 1615, có một gia đình nông dân sinh sống ở Nghệ An cũng khăn gói gồng gánh dìu dắt nhau lên đường.

Gia đình nhỏ này có năm người. Người chồng tên là Mạc Long khoảng ba mươi tám tuổi, vợ ông và ba đứa con mà đứa út là con trai, tên là Mạc Khảo mới năm tuổi. Họ dìu dắt nhau qua hàng trăm dặm đường, vượt đèo Ngang qua phía nam Hoành Sơn, gần như kiệt sức vẫn phải vừa đi vừa dò la tìm nơi dừng chân cư trú. Họ tình cờ cũng dừng chân ở Khang Lộc, nơi xóm làng dân cư khá đông đúc, cũng là nơi có gia đình Nguyễn Triều Văn định cư.

Nghe lời khuyên của những người dân trong vùng, Mạc Long xin được nương tựa vào gia đình Nguyễn Triều Văn.

Quan Tham tướng vừa nghe người họ Mạc trình bày hoàn cảnh vừa quan sát người khách trung niên mà nhìn gương mặt già như tuổi tri thiên mệnh. Chỉ ánh mắt của anh ta là khiến người đối diện có thiện cảm và lời lẽ thì nhỏ nhẹ chân tình:

– Vì cớ gì ngươi phải bỏ Nghệ An để vào đây?

– Bẩm quan Tham tướng, vì cuộc sống ngoài ấy của gia đình tôi quá khổ cực. Hàng ngày tôi chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà cũng chỉ cùng vợ con sống lây lất qua ngày…

– Có thực là chỉ vì vậy không?

– Bẩm, tôi không dám giấu. Tôi vốn là dòng dõi nhà Mạc. Ngay khi nhà Mạc còn ở Thăng Long, do không muốn chứng kiến cảnh chém giết giữa nhà Mạc với nhà Lê nên tổ tiên tôi đã xin ra làm dân. Ba đời liền đã lưu lạc từ Cổ Trai đến Thanh Hoa rồi xuống Nghệ An. Nhưng cuộc đời quả không bằng phẳng với chúng tôi. Chỉ vì là con cháu nhà Mạc mà ông cha tôi bị nhiều người xa lánh. Đã kiếm sống khó khăn còn bị ruồng bỏ, ông cha tôi đã phải cam chịu… Tận đến đời tôi thì tuy đời sống tinh thần có đỡ được nhiều phần nhưng cũng chưa hẳn được yên. Đồng hương, họ hàng cho là phản bội, nhà Lê thì vẫn nghi ngờ là địch. Vợ chồng tôi vốn chưa muốn xa xứ Nghệ nhưng thấy cảnh nhà bị o ép nhiều bề, cuối cùng cũng chấp nhận ra đi khi đứa con út còn quá nhỏ…

Quan Tham tướng không khỏi chạnh lòng khi nhớ về hoàn cảnh của mình thời gian dài phải nín nhịn sống ở Thăng Long. Và ông cũng đã ra đi khi mấy đứa con còn quá nhỏ…

– Ta hiểu rồi. Hoàn cảnh của ngươi thật đáng thương. Quý nhất là dù thế nào, gia đình ngươi cũng không thay tên đổi họ để đổi lấy sự bình yên. Khí tiết ấy thật đáng khen. Ta sẽ giúp đỡ gia đình ngươi, sắp xếp việc làm cho vợ chồng ngươi để nuôi các con khôn lớn…

Mạc Long nước mắt chảy ròng, quỳ xuống lạy tạ ân nhân. Bấm đốt ngón tay, từ khi ông tổ Mạc Ký được ra làm dân năm 1541 thì đến nay đã bảy mươi năm qua di, một cuộc sống mới mới là có thật đang chờ đón gia đình Mạc Long hòa nhập.

***

Xứ Thuận Quảng dưới sự cai trị của quan Trấn thủ Nguyễn Hoàng cho đến cuối đời ông vẫn chưa ra mặt chống đối vua Lê – chúa Trịnh. Trừ một số quan tướng miền Bắc tự ý trốn vào Nam được Nguyễn Hoàng thu nhận và phpng chức như Nguyễn Triều Văn, thì các quan lại khác trong Nam vẫn do triều đình ở Thăng Long bổ nhiệm. Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng lại ngấm ngầm chuẩn bị cho việc ly khai.

Để bảo vệ lãnh thổ, quân đội miền Nam được tổ chức gồm quân túc vệ có Tả tiệp và Hữu tiệp ở Chính Dinh, gồm toàn những người thân của chúa, có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành và hộ vệ chúa; quân chính quy ở các Dinh mà chỉ người Thanh Hoa mới được giao nhiệm vụ quan trọng; lực lượng Thổ binh, còn gọi là Tạm binh, ở các địa phương. Quân số Thổ binh không ổn định mà tùy thời cuộc có xảy ra chiến tranh hay hòa bình mà tăng hay giảm cho phù hợp.

Từ thời Lê Sơ, đất Khang Lộc nằm trong phủ Tiên Bình thuộc xứ Thuận Hóa. Qua thời Lê Trung hung, Tiên Bình đổi thành Tân Bình rồi vào năm 1604 Ngjyễn Hoàng lại đổi thành Quảng Bình. Địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ dãy núi Trường Sơn phía tây sang bờ biển phía đông, gồm bốn vùng khác nhau: vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển. Khí hậu nơi đây không giống miền Bắc bốn mùa mà chỉ có hai mùa chính là mùa khô và mùa mưa. Năm con sông chính trong vùng đều khởi nguồn từ dãy Trường Sơn trong đó nổi tiếng có sông Linh Giang, sông Nhật Lệ. Nước của những con sông này lúc thừa khi thiếu, vừa gây khó khăn cho người dân khi lụt lội, vừa đem phù sa về cho ruộng đồng. Ngoài nông nghiệp, người dân Thuận Quảng còn sinh nhai bằng các ngành nghề khác và vẫn theo chính sách thuế khóa từ xưa, không khác với miền Bắc của vua Lê – chúa Trịnh.

Việc giao thương với người nước ngoài được quy định riêng. Thương cảng Hội An có từ thời nước Chiêm hưng thịnh. Thời Nguyễn Hoàng, với sự cai quản trực tiếp của Nguyễn Phúc Nguyên từ dinh Thanh Chiêm, nơi đây có thêm nhiều người Hoa và Nhật Bản đến, một số người xin ở lại sinh sống, Hội An ngày được phát triển hơn.

Nguyễn Hoàng lấy Tam giáo gồm Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo làm chỗ dựa cho đời sống tinh thần của nhân dân, trong đó đạo Nho và đạo Phật là chính. Nhiều cơ sở chùa chiền được xây dựng mới hoặc trùng tu khắp vùng. Một ngôi chùa cổ trên một ngọn đồi ven dòng sông Hương Trà được xây dựng lại để “Tụ khí thiêng cho bền long mạch”. Chùa được đặt tên là Thiên Mụ, lấy chữ từ một câu thơ cổ: “Thiên Mụ tự biến cố triều” (Tự Thiên Mụ nằm trên biên cố triều). Nhiều ngôi chùa khác như Sùng Hóa, Bửu Châu, Long Hưng… cũng được quan Trấn thủ cho xây dựng trong vùng.

Gần cuối đời Nguyễn Hoàng, vào năm 1611, qaân nước Hóa Anh, một trong ba nước của Chiêm, quấy phá biên giới, quan Trấn thủ sai tướng Vân Phong vốn là người Chiêm đi đánh. Vua Hóa Anh phải rút về phía sau Đèo Cả. Nước Hóa Anh từ đèo Cù Mông tới Đèo Cả bị sáp nhập vào Đại Việt. Nguyễn Hoàng lập ra phủ Phú Yên. Cũng khoảng thời gian này, với sự giúp sức của hai tướng gốc Chiêm là Vũ Thì An và Vũ Thì Trung, Nguyễn Hoàng là người đầu tiên đứng ra đặt chủ quyền vùng “Bãi Cát Vàng” ở biển Đông.

Vợ chồng Mạc Long được cho làm gia thuộc của Tham tướng Nguyễn Triều Văn, còn được ông cấp cho môt ít đất dể trồng trọt rau trái, cải thiện đời sống. Tuy chỉ có cuộc sống bình thường nhất, người đàn ông họ Mạc già trước tuổi vẫn thấy mình hạnh phúc vì tinh thần được yên ổn, không phải ưu tư gì về thân phận.

***

Năm 1620, sau khi quan Trấn thủ Nguyễn Hoàng qua đời được bảy năm và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên kế nghiệp, chúa Sãi gả con gái là công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey Chetta II. Chey Chetta là con vua Chân Lạp, trước đó bị làm con tin sống ở nước Xiêm, khi cha chết thì được về nước nối ngôi. Ông có tư tưởng độc lập, chống Xiêm nên cần dựa vào thế lực của chúa Nguyễn. Đây là cuộc hôn nhân mà hai bên đều có lợi. Chân Lạp được chúa Nguyễn bảo vệ chống sự xâm lăng của nước Xiêm, còn Nam Hà thuận lợi hơn trong việc đưa lưu dân vào đất Thủy Chân Lạp.

Vào năm này Mạc Long qua tuổi bốn mươi ba, hai con gái đã vào tuổi thiếu nữ còn Mạc Khảo thì mười tuổi. Thằng bé tỏ ra ham mê vườn tược, thích thú theo dõi từng ngọn bầu, dây mướp từ lúc hạt giống nảy mầm dưới đất đến khi dây leo lên giàn, nở hoa vàng, hoa trắng và cho những trái bầu, trái mướp treo lủng lẳng dưới giàn. Lúc chị nó cắt trái khỏi giàn đem nấu canh thì nó khóc lóc, kêu lên:

– Sao chị lại giết nó!

Dù vậy khi ăn canh, thằng bé Khảo lại giành ăn nhiều hơn mọi người trong nhà. Từ đời ông tổ Mạc Ký qua Mạc Huy có vóc dáng thư sinh, nho nhã, đến đời Mạc Long đã cải thiện đôi phần, riêng Mạc Khảo thì đã là đứa bé “ăn no chóng lớn”. Nó có một thân thể hứa hẹn sẽ cao lớn, mạnh mẽ.

Mạc Long vui miệng hỏi con:

– Sao con lại nói là trái mướp bị giết?

– Tại vì nó đang còn sống mà chị lấy dao làm cho nó chết. Thế là giết nó chứ còn gì nữa!

Mạc Long trầm ngâm, nghĩ ngợi chuyện anh em nhà chúa Trịnh, chúa Nguyễn lao vào cuộc phân tranh không khoan nhượng. “Thà cứ sống bần hàn như ta mà chẳng lo con cái tranh giành, giết chóc lẫn nhau”. Nghĩ đến đây, ông chợt bật cười, nghĩ tiếp: “Mà nhà ta có gì để tranh giành đâu, thằng Mạc Khảo có một mình là trai thì tranh giành với ai cơ chứ! Nó lại là đứa bé có lòng nhân hậu, cả đến trái mướp, trái bầu cũng không muốn để bị giết. Vậy thì ta an tâm lắm rồi”.

Mạc Long hoàn toàn hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình. Quê hương tổ tiên ở Cổ Trai chỉ tồn tại với cái địa danh trong trí nhớ ông chứ không có một hình ảnh nào hiện ra. Xứ Nghệ khá hơn, nhưng là những hình ảnh ông không muốn nhớ. Bây giờ, Khang Lộc mới hiện hữu như một quê hương đích thực. Nơi này ông có vợ con, có ân nhân đồng cảm và hết lòng giúp đỡ.

KHÔI VŨ

(Còn tiếp)

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com