Nguyễn Hữu Dật có cuộc đời lắm thăng trầm từ khi mới là một thanh niên mười sáu tuổi. Năm ấy chúa Sãi cho tổ chức cuộc thi Hoa văn và Hữu Dật thi đỗ. Chúa liền bổ chàng trai trẻ giỏi giang này vào chức Tham cơ vụ. Hữu Dật chứng tỏ được rằng mình là một người dự đoán thời tiết giỏi, lại lắm cơ mưu qua nhiều lần dâng kế giúp chúa giải quyết nhiều việc khó trong nội trị. Được nhận nhiều lời khen, với sự xốc nổi của tuổi trẻ, Hữu Dật nói với mọi người:

Chí lớn
Nam nhi nuôi chí luyện tài
Rạng danh tông tổ đời đời ghi công
Chuyện nhắc lại:
Năm 1593, Trịnh Tùng đánh thắng nhà Mạc, chiếm lai Thăng Long, rước vua Lê Thế Tông về lại kinh thành. Họ Trịnh cũng tự xưng Vương. Để phô trương thanh thế ông này đã cho xây phủ Chúa ngay bên kinh thành Thăng Long.
Quan Trấn thủ Nguyễn Hoàng có bốn người con trai đầu đều mất sớm, người thứ năm phải ở Thăng Long làm con tin. Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ sáu của Nguyễn Hoàng, được chọn làm Thế tử. Mới 22 tuổi, Thế tử đã dẫn hạm đội vào cửa Việt Yên tiêu diệt được hai chiếc tàu hải tặc Nhật Bản. Nguyễn Hoàng khen: “Con ta thực là anh kiệt”. Bốn mươi tuổi, Thế tử được cha tiến cử làm Trấn thủ Quảng Nam để rèn luyện tài lãnh đạo quân dân một vùng, chuẩn bị tốt cho tương lai.
Tháng 6 năm 1613, trước khi mất, Nguyễn Hoàng dặn Nguyễn Phúc Nguyên rằng: “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Hoành Sơn và sông Linh Giang hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi sơn vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”.
Một tháng sau, quan Trấn thủ qua đời ở tuổi 88, sau 55 năm là Trấn thủ xứ Thuận Quảng. Lúc này Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên đã 51 tuổi. Tới thời điểm này, Thuận Quảng vẫn chưa ra mặt ly khai triều Lê. Từ Thăng Long, vua Lê Kính Tông sắc phong Nguyễn Phúc Nguyên làm Trấn thủ Thuận Quảng thay cha, ban hàm Thái Bảo, tước Quận công.
***
Ngược dòng lịch sử:
Nguyễn Phúc Nguyên là người con đầu tiên của Nguyễn Hoàng khi sinh ra được đặt tên với chữ Phúc sau họ Nguyễn thành họ hai chữ Nguyễn Phúc. Những người con trước của Nguyễn Hoàng chỉ mang họ một chữ Nguyễn là Nguyễn Hà, Nguyễn Hán, Nguyễn Diễn, Nguyễn Thành, Nguyễn Hải.
Tương truyền khi mẹ Nguyễn Phúc Nguyên mang thai, bà đã nằm chiêm bao thấy một vị thần đưa cho mình tờ giấy có viết chữ Phúc. Mọi người nghe kể, chúc mừng bà và đề nghị đứa trẻ sinh ra sẽ đặt tên có thêm chữ Phúc sau họ Nguyễn. Bà nói rằng nếu như thế thì chỉ đứa trẻ này được hưởng phúc là không nên, cần phải để cho những đứa con khác của chúa cũng được hưởng. Quan Trấn thủ Nguyễn Hoàng chấp nhận đề nghị này. Đứa trẻ ra đời được đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Cũng từ đó, con cháu các chúa Nguyễn đều lấy họ là Nguyễn Phúc.
***
Tham tướng Nguyễn Triều Văn vốn là quan dưới triều vua Lê Thế Tông và chúa Trịnh Tùng. Vào Nam phò Nguyễn Hoàng, ông tiếp tục được nhận chức Tham tướng, được dự bàn những chuyện cơ mật. Con trai thứ năm của ông là Nguyễn Hữu Dật sinh năm 1603 tại kinh thành Thăng Long. Sáu tuổi, cậu bé theo cha cùng gia đình trốn vào Nam. Hữu Dật nhận được sự dạy dỗ đặc biệt từ cha mình.
Ở Khang Lộc, cậu bé Hữu Dật lớn dần thành một thiếu niên. Ở tuổi này cậu đã bộc lộ chí lớn. Cậu cùng bạn bè trang lứa trong vùng bày trò chơi đánh trận giả với đầy đủ trống chiêng, cờ xí, còn tự nhận mình là đại tướng chỉ huy.
Những lúc cha con rảnh rang, Nguyễn Triều Văn hay trò chuyện với Hữu Dật. Ông dặn dò: “Con tuy sinh ra ở Thăng Long nhưng nay sống ở Khang Lộc, lớn lên ở Khang Lộc, mai sau sẽ làm nên sự nghiệp từ Khang Lộc này. Vậy thì nơi đây chính là quê hương của con chẳng khác gì nơi sinh ra”. Hữu Dật thấm ý cha, yêu đất Khang Lộc, yêu người Khang Lộc và quyết tâm làm rạng danh mảnh đất này.
Hữu Dật chịu khó học cả văn lẫn võ. Trời lại phú cho cậu bé năng khiếu về thiên văn. Tiếp thu kiến thức từ môn học này được đến đâu, cậu ứng dụng ngay vào cuộc sống đến đó. Ở tuổi thiếu niên non nớt, không ít lần Hữu Dật đã đoán sai thời tiết, bị mọi người chê cười. Cậu không nản, tiếp tục học tập và dần dần tiên đoán đúng lúc nào trời mưa hay nắng, giúp người dân cày cấy, gieo trồng, thu hoạch nông sản bội thu. Cậu cũng đoán trước được những cơn bão lũ lớn từ biển khơi tràn vào hay từ vùng núi đổ xuống, giúp mọi người chuẩn bị đối phó, hạn chế được nhiều thiệt hại. Nguyễn Triều Văn rất hãnh diện về tài thiên văn của con trai ngày một tiến bộ và chính xác. Thực tế này khiến có lần ông nói với con:
– Ta tin rằng mai này con sẽ là một quan văn giỏi.
Hũu Dật không nghĩ như cha. Cậu mơ ước mình trở thành một người văn võ song toàn. Khi ấy, cậu sẽ giúp dân được nhiều hơn.
***
Quan Trấn thủ Thuận Quảng Nguyễn Phúc Nguyên thay cha không bao lâu thì phải đối phó với hai người em thứ bảy và thứ tám, do tranh giành quyền lực với anh mà họ mưu liên minh với chúa Trịnh để làm phản. Việc bại lộ, Trấn thủ Thuận Quảng rất đau lòng vì anh em tranh giành quyền bính với nhau mà dứt tình nghĩa ruột thịt, nhưng ông vẫn buộc phải sai tướng đem quân đi trừng trị ho. Khi bắt được hai kẻ làm phản, ông chảy nước mắt nói: “Hai em sao nỡ trái bỏ luận thường?”. Ý của Nguyễn Phúc Nguyên là muốn tha nhưng các tướng không chịu, ông đành giam hai em vào ngục. Tại đây, họ đã thắt cổ tự tử.
Sau sự kiện có dính líu tới chúa Trịnh này, như một giọt nước tràn ly, Trấn thủ Nguyễn Phúc Nguyên chấm dứt việc nộp thuế cho nhà Lê -Trịnh, cũng không nhận sắc phong của vua Lê. Ông cho quân tu sửa quan ải ở Bắc Bố Chính, sẵn sàng chiến đấu chống trả nếu họ Trịnh tấn công. Từ đây ông bắt đầu chính thức ly khai để xây dựng một chính quyền riêng, tự bổ nhiệm quan lại giúp việc mình. Mọi người gọi ông là chúa Sãi, gọi Nguyễn Hoàng là chúa Tiên. (Trong truyện này từ đây gọi người đứng đầu Nam Hà là chúa Nguyễn).
***
Chúa Sãi có bốn người con gái ruột và một người con gái nuôi. Công nữ thứ nhất và thứ tư được chúa gả cho hai vị quan ở Nam Hà. Trong thời gian 1619, 1620, con gái nuôi là Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Hoa được gả cho một thương nhân nổi tiếng người Nhật là Hoang Mộc Tông Thái Lang (Araki Soutaro); người con gái ruột thứ nhì là công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Vạn gả cho vua Chey Chetta II của Chân Lạp. Công nữ cuối cùng là Ngọc Khoa được gả cho vua Chiêm vào năm 1631. Việc gả con cho người nước ngoài rõ ràng là sự tính toán có lợi cho Nam Hà của chúa Sãi.
Chúa Sãi còn là người biết trọng dụng nhân tài.
Ở Quy Nhơn, chúa tin tưởng quan Khám lý Trần Đức Hòa. Ông này vừa có tài quản quân, trị dân. lại có con mắt nhìn người tinh tường. Ông cũng rất thoáng với những gì mới mẻ. Cristoforo Borri, một trong các tu sĩ thừa sai Dòng Tên có mặt tại “cơ sở truyền giáo chính thức” tại Nước Mặn Quy Nhơn vào năm 1618 là nhờ sự bảo trợ của Khám Lý Trần Đức Hòa.
Chúa Sãi cũng đã thu nhận và tin dùng Dào Duy Từ. người ít hơn mình cả chục tuổi, là người tài cao học rộng từ miền Bắc tìm vào. Chúa quý trọng Đào Duy Từ, xem ông như một người thầy.
Đào Duy Từ sinh năm 1572 tại trấn Thanh Hoa. Cha ông là Đào Tá Hán, người hát xướng nổi danh khắp vùng. Tuy cha mất sớm nhưng Duy Từ vẫn chịu tiếng là con của người xướng ca nên theo kuật lệ nhà Lê, Duy Từ không được dự các kỳ thi cử. Ông phải đổi qua họ Vũ là họ mẹ để đi thi và đậu Á nguyên khoa thi Hương năm 1593 ở Thanh Hoa. Lên Thăng Long thi Hội, tbân phận bị bại lộ, ông bị lột áo, tước kết quả thi Hương, đuổi về quê. Nén nỗi buồn đau, dạy học ở quê một thời gian, Đào Duy Từ quyết định vào Nam.
Mùa đông năm 1625, qua tuổi tri thiên mệnh, Đào Duy Từ mới trốn được vào Nam Hà. Đầu tiên, ông ở huyện Vũ Xương hơn một tháng để nghe ngóng tình hình nơi phủ chúa. Ông muốn tìm gặp chúa Sãi nhưng chúa đã đi kinh lý xa. Ông biết được rằng Khám lý Trần Đức Hòa ở tận Quy Nhơn là một người thân tín của chúa Sãi nên đi tìm ông này. Để kiếm sống, Đào Duy Từ xin được chăn trâu cho nhà phú hộ Chúc Trịnh Long cách nhà Trần Đức Hòa một con sông nhỏ. Con trai của vị phú hộ mở Tùng Châu Thi xã, lấy Duy Từ làm thư đồng để phục vụ các bằng hữu văn chương. Chính từ đây mọi ngươi mới phát hiện ra một Đào Duy Từ đầy tài năng.
Chuyện đến tai Trần Đức Hòa, ông liền tìm tới hỏi chuyện Đào Duy Từ. Nể phục tài văn thơ của Duy Từ ngay từ lần gặp đầu tiên, ông mời Duy Từ về dạy học cho con gái rồi sau đó không lâu gả con mình cho Duy Từ.
Một lần Trần Đức Hòa đem bài thơ “Ngọa Long” của con rể mời chúa Sãi đọc. Chúa thấy văn sách tài tình nên muốn gặp người viết. Trần Đức Hòa vui mừng dẫn Duy Từ ra phủ chúa.
Đến nơi, Đào Duy Từ gặp một người ăn mặc quần áo trắng bình thường ra đón mình ở cửa ngách. Khi biết đó là chúa Sãi, ông không hài lòng nên đòi Trần Đức Hòa cho về. Chúa Sãi biết mình có lỗi nên vào thay trang phục của chúa, mở cửa chính mời Duy Từ vào đàm đạo. Hai người rất hài lòng về nhau.
Sau lần gặp ấy, chúa Sãi họp bàn với đình thần phong cho Đào Duy Từ làm Nha úy Nội tán, tước Lộc Khuê hầu, trông coi việc quân cơ trong ngoài, tham lý quốc chính. Chúa Sãi thường nói với mọi người: “Đào Duy Từ thật là Tử Phòng và Khổng Minh ngày nay”. Chúa còn cười giòn, nói thêm: “Ông ấy còn biết viết tuồng, chắc sẽ hay. Để lúc nào ta bảo ông ấy thử viết rồi cho diễn xem sao!”. Mọi người hoan hỉ chứ không bất ngờ vì ai cũng biết tài ca diễn của cha ông là Đào Tá Hán.
Biết chúa Sãi ngày đêm lo nghĩ kế giữ nước, Đào Duy Từ dâng kế sách. Ông tâu rằng: “Nay thần đã có đầy đủ kế sách hay, coi trăm vạn hùng binh của quân Bắc Hà như đàn ong bầy kiến, chẳng có gì đáng sợ!”
Chúa Sãi vui mừng:
– Nếu quả như lời khanh nói thì cứ thế mà làm đi. Ta không có gì nghi ngại.
Lộc Khê hầu vâng mệnh đến Quảng Bình.
***
Nguyễn Hữu Dật có cuộc đời lắm thăng trầm từ khi mới là một thanh niên mười sáu tuổi. Năm ấy chúa Sãi cho tổ chức cuộc thi Hoa văn và Hữu Dật thi đỗ. Chúa liền bổ chàng trai trẻ giỏi giang này vào chức Tham cơ vụ. Hữu Dật chứng tỏ được rằng mình là một người dự đoán thời tiết giỏi, lại lắm cơ mưu qua nhiều lần dâng kế giúp chúa giải quyết nhiều việc khó trong nội trị. Được nhận nhiều lời khen, với sự xốc nổi của tuổi trẻ, Hữu Dật nói với mọi người:
– Trên đời này dễ gì có người tuổi trẻ tài năng như ta!
Có người tâu lại với chúa Sãi. Chúa chưa tin hẳn, cho người dò la sự tình. Hữu Dật biết được, chẳng sợ hãi mà còn nói:
– Chẳng lẽ ta nói sai hay sao?
Chúa Sãi nghe kể, lòng ngao ngán nghĩ: “Không ngờ chàng trai trẻ này sớm mắc bệnh tự phụ. Cần phải răn dạy hắn kịp thời chứ không thì tương lai Nam Hà sẽ uổng phí một tài năng”.
Chúa cho vời Nguyễn Triều Văn đến gặp, kể chuyện về Nguyễn Hữu Dật rồi ra lệnh:
– Ta tạm bãi chức của Hữu Dật. Ngươi đem con về nhà dạy nó tu dưỡng lại tính tình và chịu khó học tập thêm.
Nguyễn Triều Văn lấy làm hổ thẹn vô cùng. Tuy nhiên, khi Hữu Dật bị bãi chức về nhà, ông không la mắng mà để con trai tự suy ngẫm. Hữu Dật bị bãi chức thì trong lòng đã buồn bã lắm, lại thấy cha không nói gì, chỉ lộ vẻ ưu tư thì hiểu ngay rằng mình đã mắc lỗi nặng và cần phải làm gì. Chàng trai bắt đầu quan tâm đến cách xử thế của mình, tập nén bỏ tính kiêu căng, học phép khiêm nhường. Cậu cũng tập trung học hành, cả văn lẫn võ, với những người thầy giỏi mà cha mời về dạy, như một cách chuộc lỗi thiết thực nhất. Nguyễn Triều Văn thấy vậy thì trong lòng mừng rỡ nhưng ngoài mặt ông vẫn không nói gì. Ông thầm lặng theo dõi cậu con trai.
Đoán biết sẽ có chiến tranh xảy ra giữa hai miền Nam Bắc sau khi Nam Hà chính thức ly khai với Thăng Long, năm 1626 chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cho dời Chính dinh về bên bờ dòng sông Đan Điền, trên làng Phúc An thuộc Hóa Châu, gọi nơi chúa làm việc là phủ, đồng thời chuẩn bị lực lượng chống quân Trịnh.
Thời gian này, chúa Sãi quan tâm hơn đến việc sử dụng nhân tài. Chúa vẫn cho người giám sát Nguyễn Hữu Dật. Đợi đến khi thấy Hữu Dật đã thật sự biết khiêm tốn và ứng xử khôn khéo hơn, mãi đến năm chàng trai hai mươi ba tuổi, chúa mới cho vào làm việc lại trong phủ. Xem ra chúa khá khắt khe nhưng cũng cần thiết phải khó khăn như vậy để rèn luyện nên một chiến tướng cho tương lai.
***
Năm 1627, quả nhiên cuộc chiến Trịnh – Nguyễn lần thứ nhất xảy ra.
So về lực lượng thì quân đội miền Bắc đông hơn, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu qua các trận đánh với quân nhà Mạc, Quân Nam Hà với số lượng ít hơn, mới được tổ chức, lại chưa từng đánh lớn. Tuy nhiên trong lực lượng quân miền Nam lại có thủy binh khá mạnh. Mỗi thuyền có khoảng 30 chèo, có 3 khẩu đại bác ở mũi và 2 khẩu ở đuôi. Chúa Sãi còn mua vũ khí của phương Tây trang bị cho quân đội và học cách đóng tàu thuyền… Sự hiện diện của người nhiều nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Tây Ban Nha… đến buôn bán vũ khí và hàng hóa kéo theo sự xuất hiện của các nhà truyền giáo Thiên Chúa. Đáng chú ý là hoạt động của các Thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha. Tuy nhiên chúa Nguyễn đặt mục tiêu trang bị vũ khí cho quân Nam Hà lên hàng đầu, tạm để cho đạo Thiên Chúa được phát triển tự phát trong dân mà chưa có chính sách đối phó rõ ràng.
Đến năm này, chúa Trịnh Tráng đã thay chúa Trịnh Tùng (mất năm 1623). Xét về họ hàng bên chúa Nguyễn, thi Trịnh Tráng lấy Ngọc Tú là em Nguyễn Phúc Nguyên nên ở vai em rể chúa Sãi. Nhưng quyền bính vốn không nhường tình thân tộc, giữa họ vẫn xảy ra chiến tranh. Trịnh Tráng đích thân dẫn hai mươi vạn quân thủy bộ chinh nam.
Chống cự với quân Trịnh, chúa Sãi giao cho tướng Nguyễn Phúc Vệ chỉ huy quân Nguyễn nghênh chiến. Ở tuổi hai mươi bốn, chàng thanh niên Nguyễn Hữu Dật vui mừng báo tin cho cha mình:
– Con được chúa giao chức Giám chiến cho tướng Phúc Vệ.
Nguyễn Triều Văn giấu nụ cười mãn nguyện, nghiêm nghị nói với con trai:
– Vậy con hãy chứng tỏ cho mọi người biết rằng mình đúng là người có năng lực về võ Ngoài ra cũng đừng quên ngoài chiến trường, đạn tên vô tình. Thân thể con người là của cha mẹ sinh ra, phải hết sức giữ gìn.
Quân Trịnh chia làm hai đạo vào Nam, hội quân tại cửa Nhật Lệ. Dòng sông này có tên cũ là Đại Uyên, là hợp lưu hai sông Đại Giang (Long Đại) và Kiến Giang, đổ ra biển tại cửa Nhật Lệ. Quân Bắc Hà trấn giữ từ Dèo Ngang đến bờ bắc sông Linh Giang. Từ bờ nam Linh Giang vào đến sông Nhật Lệ là tuyến phòng thủ của Nam Hà với những lũy đồn do Đào Duy Từ chỉ huy xây dựng.
Tuy lực lượng mạnh hơn nhưng do phải hành quân đường xa hàng mấy trăm dặm nên quân Trịnh bị mệt mỏi, sức chiến đấu bị ảnh hưởng không ít. Quân Nguyễn nhờ đó đã chiến đấu nỗ lực, lại có đại bác kiểu Bồ Đào Nha bắn qua quân Trịnh, nên tạo được thế cân bằng với đối phương.
Hữu Dật bàn với tướng Phúc Vệ:
– Trong cuộc chiến này, tinh thần quân Trịnh là đi đánh chiếm, còn quân ta là bảo vệ đất nên có phần thoải mái hơn. Tuy nhiên nếu cuộc chiến kéo dài thì quân ta e khó tránh bị thất bại. Chi bằng để tôi dùng mưu kế.
Được Nguyễn Phúc Vệ đồng ý, Hữu Dật cho người ra Bắc phao tin rằng: “Thăng Long sắp có loạn tranh giành quyền bính trong họ tộc chúa Trịnh. Trịnh Gia và Trịnh Nhạc sắp làm phản Trịnh Tráng”.
Chúa Trịnh Tráng đang cầm quân nam tiến cân nhắc: “Chưa biết thực hư việc này ra sao nhưng nếu ta cứ ở đây giằng co với quân Nguyễn lâu dài, thì việc tạo phản ắt có cơ hội xảy ra. Chi bằng ta ngưng chiến, trở về Thăng Long”.
Trịnh Tráng ban lệnh rút quân Trịnh về Bắc.
***
Ở Nam Hà, sau trận chiến mà thấy rõ lực lượng của mình không mạnh bằng của Bắc Hà, chúa Sãi theo lời của Đào Duy Từ cho gấp rút xây dựng lũy Trường Dục để giữ đất. Hai dinh với mục đích quân sự được cho xây dựng là dinh Quảng Bình (Dinh Trạm) và Dinh Bố Chánh (Dinh Ngói) ở bờ nam sông Linh Giang. Từ đây, Quảng Bình trở thành chiến trường giữa hai miền Bắc Nam. Từ năm 1631, chúa Sãi cho lập xưởng đúc súng do người Bồ Đào Nha giúp xây dựng. Cùng năm này, chúa Sãi cho mở trường bắn, trường tập voi, tập ngựa… để huấn luyện quân lính thiện chiến hơn… Năm này cũng diễn ra sự kiện chúa Sãi gả người con gái thứ ba là Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa cho vua Chiêm Thành là Pô Rome cũng với mục đích giữ hòa hiếu giữa hai nước để biên giới phía nam được yên ổn.
Từ năm 1632, chúa Sãi bắt đầu cho mở khoa thi để lấy người tài làm việc. Theo chủ ý của chúa, hệ thống quan lại được tuyển này gồm toàn thế hệ những người sinh ra ở Nam Hà, sau hơn bảy mươi năm tổ tiên họ vượt Hoành Sơn. Họ sẽ là những người hiểu đất, hiểu người Nam Hà, có ý chí bảo vệ quê hương mới mà giúp chúa cai trị và giữ đất tốt hơn.
Ở Chính dinh Phúc An có tam ty giúp chúa chăm lo việc chính sự. Ngoài Chính dinh thì tùy theo tầm quan trọng của các dinh mà phân bổ số lượng quan viên, có những dinh chỉ đặt một ty là Lệnh sứ ty nhưng trông coi công việc của cả hai ty còn lại.
Các cấp hành chính ở dưới dinh bao gồm: phủ, huyện, tổng, xã, thuộc.
Để tăng cường sức mạnh quân sự hầu chống giữ quân Bắc Hà, chinh sách tuyển binh được áp dụng gắt gao. Thanh nên từ 18 tuổi phải vào lính. Trước hết, họ được học chiến đấu cùng với việc học nghề, được nhận lương, miễn sưu thuế, gia đình được hưởng ưu đãi. Khi có chiến tranh, họ được phiên vào các binh chủng, hòa bình thì họ làm nghề sản xuất tạo của cải cho đất nước. Chính sách quân sự này tạo nên một lực lượng chính quy đủ mạnh để chiến đấu nhưng cũng đồng thời gây khó khăn, bất mãn với nhiều người dân Nam Hà.
***
Quan Nội Tán Đào Duy Từ có vị thế rất cao khi vào tuổi gần sáu mươi, sau tám năm theo phò chúa Sãi. Một hôm ông tiếp một chàng trai tuổi ba mươi từ trấn Thanh Hoa vào tìm mình. Chàng xưng tên là Nguyễn Hữu Tiến và xin được phục vụ dưới quyền ông. Đào Duy Từ nghĩ thầm: “Giúp đỡ đồng hương là viêc nên làm. Chàng trai này ta cũng có thiện cảm. Nhưng vẫn phải tìm hiểu kỹ về thân thế và đưa ra một số thử thách”.
Nguyễn Hữu Tiến hiểu ý quan Nội tán, cố gắng vượt qua tất cả thử thách, chiếm được lòng tin của Đào Duy Từ nên được ông thu nhận. Không bao lâu, Nguyễn Hữu Tiến được tiến cử với chúa Sãi. Hữu Tiến được cử làm Đội trưởng một Thuyền thuộc thủy binh. Chàng trai không được tham gia trận chiến đầu tiên của cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn nhưng sau đó lần lượt có bước thăng tiến trong quân đội Nam Hà từ cấp thấp nhất là Đội trưởng rồi lên cấp cao hơn….

Quyền lực và lòng tham
Trong tay quyền bính là vương
Đất đai, vàng bạc chứa lòng tà ma
Sáu năm trôi qua.
Chiến tranh chỉ tạm ngưng chứ mầm mống vẫn nảy nở ở cả hai phía chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Bắc Hà đã quá rõ mưu đồ lập giang sơn riêng của Nam Hà. Chúa Nguyễn càng hiểu rằng chúa Trịnh muốn giành lại phía nam Hoành Sơn. Hai bên chỉ chờ một cái cớ!
Cái cớ ấy xuất hiện vào năm 1633. Chiến tranh lần này vẫn giữa chúa Trịnh Tráng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
Chuyện xảy ra trước đó: Con trưởng của chúa Sãi là Nguyễn Phúc Kỳ được làm Trấn thủ Quảng Nam, là một người tài. Ông cho người Hoa, người Nhật vào Hội An lập nên phố xá và thương cảng tấp nập bậc nhất Nam Hà bấy giờ. Từ đó, người các nước ngoài khác đến giao thương ngày một đông hơn. Các giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo Thiên chúa cũng được tiếp đón tử tế và tạo điều kiện tốt cho công việc của mình. Không may, Nguyễn Phúc Kỳ bị bệnh rồi qua đời khi mới ngoài ba mươi tuổi trong thương tiếc của mọi người. Chúa Sãi cho người em Phúc Kỳ là Nhân Lộc hầu Nguyễn Phúc Lan thay làm Thế tử.
Người con trai thứ ba của chúa Sãi là Dương Nghĩa hầu Nguyễn Phúc Anh được cử trấn giữ Quảng Nam.
Phúc Anh bất mãn nói với thân tín:
– Đất Quảng Nam là nơi dành cho các Thế tử học tập để sẵn sàng làm chúa kế nghiệp. Nay ta được làm Trấn thủ Quảng Nam, sao lại không được lập làm Thế tử? Thật là bất công.
Thân tín giải thích:
– Trấn thủ Quảng Nam chỉ là một điều kiện chứ chưa phải là quy định. Chắc hẳn chúa có lý do để chọn Nguyễn Phúc Lan…
– Vậy sao không cử huynh ấy làm Trấn thủ nơi đây! Chuyện này, ta không thông được…
Bất mãn vì tương lai không được lên ngôi chúa nên Phúc Anh đã mưu thông đồng với chúa Trịnh, ngầm viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng để khi quân Bắc Hà đánh thắng, sẽ giúp Phúc Anh giành ngôi chúa đất Nam Hà. Trịnh Tráng mừng rỡ đem quân nam tiến, đến đóng ở cửa Nhật Lệ như cuộc chiến lần đầu.
Chúa Sãi cử Nguyễn Mỹ Thắng làm Đại tướng, Nguyễn Hữu Dật làm Đốc chiến, Nguyễn Hữu Tiến lo đắp lũy Trường Sa ngăn chặn quân Trịnh tấn công về phía biển.
Trịnh Tráng đợi suốt hơn mười hôm không thấy hiệu lệnh làm nội ứng của Phúc Anh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy, thiệt quân đến một nửa. Trịnh Tráng phải rút về Bắc, để con rể là Nguyễn Khắc Liệt ở lại trấn thủ châu Bắc Bố Chính.
***
Năm 1634, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên qua đời. Người con thứ nhì là Nguyễn Phúc Lan kế nghiệp, tức chúa Thượng. Trước đó một năm, quân sư Đào Duy Từ cũng khuất núi. Chúa Thượng chuyển Chính Dinh từ Phúc An về làng Kim Long cũng thuộc Hóa Châu, để yên tâm hơn khi chiến tranh với chúa Trịnh lại xảy ra.
Thưở sinh tiền, chúa Sãi lo Nguyễn Phúc Anh, em kế Nguyễn Phúc Lan, là người kiêu ngạo, phóng túng, nên đã cử một văn chức tên là Phạm làm Ký lục đi theo để kềm cặp. Phạm vốn có quan hệ thân thiết với Nhân Lộc hầu nên mọi việc ở Quảng Nam đều bị Nguyễn Phúc Lan biết rõ.
Nguyễn Phúc Anh ở Quảng Nam ra mặt chống đối. Chúa Sãi mất, ông không về chịu tang cha. Ông tuyển hàng vài trăm dũng sĩ để làm tâm phúc, ghi tên họ vào cuốn sổ “Đồng tâm hướng thuận”. Ông còn cho đắp một thành dài từ chân đèo Hải Vân tới Cu Đê để chặn đường tiến quân của bộ binh chúa Thượng; cho xây pháo đài, bố trí đại bác ở cửa biển Đà Nẵng để sẵn sàng đánh thủy binh từ Kim Long vào cửa Tư Hiền đổ tới. Thực ra đây còn là bước chuẩn bị để Phúc Anh tiến đánh ra Thuận Hóa hòng đoạt ngôi chúa. Nhưng âm mưu khởi loạn của Nguyễn Phúc Anh không qua được mắt chúa Thượng.
Chúa Thượng triệu chú là Nguyễn Phúc Khê vào chầu. Chúa khóc mà nói:
– Phúc Anh bất hiếu bất trung, tội không tha được. Nhưng tôi là con đương ở vào cảnh tang tóc đau thương, nay cầm dao mà đâm kẻ ruột thịt với mình, lòng thực không nỡ. Vả vì một người mà làm lụy đến trăm họ, điều đó người nhân giả cũng lấy làm thương tâm. Vậy tôi muốn nhường ngôi cho hắn để tắt sự tranh giành, xin chú liệu xét cho.
Phúc Khê đáp
– Tội của Phúc Anh tất phải giết, thần và người đều giận, lẽ nào nín náu để hại đến nghĩa lớn ư? Thần xin lấy nghĩa mà cắt đứt ơn riêng, để tỏ rõ phép nước.
Quân dẹp loạn chia làm hai đạo. Thủy binh tiến đến vùng Trà Sơn; bộ binh tiến đến lũy Cu Đê. Bộ binh theo đường tắt, đánh thẳng vào Quảng Nam. Toán trước lấy được quyển sổ đồng tâm, nhóm sau phóng lửa đốt dinh. Nguyễn Phúc Anh chạy trốn về phía cửa biển thì bị bắt.
Bị đóng gông giải về đến Thuận Hóa, Phúc Anh nằm rạp xuống sân xin được tha chết. Chúa Thượng đau xót không nỡ giết. Các tướng đều tâu:
– Phúc Anh phản nghịch, tội rất lớn. Phải xử theo phép nước để răn bọn loạn tặc.
Chúa bèn theo lời, lại sai Nguyễn Phúc Khê theo sổ đồng tâm mà bắt giết hết đồng bọn của em mình. Năm ấy Nguyễn Phúc Anh mới 35 tuổi.
***
Thân làm tướng vừa được ra trận lần đầu đã thắng, Nguyễn Hữu Dật rất tự hào. Nhưng chuyện tranh giành quyền lực trong nhà chúa đã khiến quan Giám chiến ngày ấy phải nghĩ ngợi. “Mình xả thân ra giữ đất, bảo vệ dân không lẽ là làm vây cánh cho một cá nhân nào sao?”. Nghe con tâm sự, Nguyễn Triệu Văn cũng bức xúc nhưng lão tướng đủ chín chắn và bình tĩnh khuyên con: “Cớ sự ấy chỉ là do lòng tham mà ra. Ta là tướng, tốt nhất là đứng ngoài những tranh chấp ấy”.
Nhưng nào phải chỉ một chuyện của Nguyễn Phúc Anh.
Vợ của Nguyễn Phúc Kỳ là Tống Thị Toại sau khi chồng chết, Nguyễn Phúc Lan lên ngôi chúa thì như người điên loạn. Bà muốn giành ngôi chúa về cho con trai của mình với chồng. Lợi dụng sắc đẹp của mình, bà quyến rũ chính em chồng là chúa Thượng khiến ông sa ngã, qua kại và tiếp tay cho chị dâu góa bụa làm giàu bất chính. Nhiều quan tướng ở phủ chúa lên tiếng khuyên can, chúa Thượng mới dần hồi tâm, xa lánh Tống Thị. Người ta còn kể rằng sau khi chúa Thượng vừa lên ngôi, cha bà Tống Thị đem gia đình trốn ra Bắc hàng vua Lê – chúa Trịnh, Tống thị ở lại nhưng viết thư và gửi lễ vật biếu chúa Trịnh, hứa sẽ làm nội ứng để chúa Trịnh đem quân vào Nam đánh thắng, cũng hứa khi ấy mình sẽ thuộc về chúa Trịnh. Trịnh Tráng dẫn quân vào nhưng không thấy động tĩnh gì, phải lui binh nên không xảy ra cuộc chiến nào. Do âm mưu không bị bại lộ nên chúa Thượng không biết, Tống Thị thoát bị trừng phạt. Bà tiếp tục làm giàu qua việc cướp đoạt, nhận hối lộ… mà có trong tay rất nhiều đất đai, vàng bạc.
Nguyễn Hữu Dật ngửa mặt lên trời mà than: “Chiến tranh đã khốc liệt mà nội bộ còn chém giết nhau, lòng người tha hóa, thì Nam Hà này sẽ ra sao đây?”.
KHÔI VŨ
(Còn tiếp)


