Kiếm hoa – Tiểu thuyết của Khôi Vũ – Kỳ 5

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 21:49

 May sao không còn xảy ra thêm đại sự buồn nào trong phủ chúa Thượng ở Kim Long nữa. Nhưng cuộc chiến Trịnh – Nguyễn lần thứ ba vẫn xảy ra vào năm 1640 giữa chúa Trịnh Tráng và chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan.

Trước đó ba năm, quân Nam Hà đánh úp, chiếm được châu Nam Bổ Chính, giết chết trấn thủ ở đây.Tướng Trịnh là Nguyễn Khắc Liệt từ Bắc Bố Chính mang quân đánh phá Nam Bố Chính rồi rút về.

Nguyễn Hữu Dật bày kế phản gián:

– Khắc Liệt trước đây đã có ý hàng ta nhưng sau khi trở thành con rể Trịnh Tráng thì đổi ý. Việc này Tráng cũng biết nên trong lòng có ý nghi ngờ. Ta có thể lợi dụng tình hình này. Trước hết, chúa hãy viết thư gửi cho Trịnh Tráng, nói rằng Liệt âm mưu thông đồng với ta nên mặt ngoài y gây chiến mà bên trong muốn hàng. Mặt khác, chúa thúc quân đánh Khắc Liệt.
Mưu kế được thực hiện. Khắc Liệt bị đánh thua chạy, viết thư cầu cứu Trịnh Tráng. Tráng tin lời gièm của bên Nguyễn nên khi Liệt xin viện binh, Tráng điều Trịnh Kiều mang quân vào cứu, thực ra là để thay Liệt.
Kiều theo lệnh đến nơi nhưng không cứu Liệt mà chặn đường bắt Liệt mang về nộp cho chúa Trịnh. Quân Nguyễn nhân thời cơ này đánh chiếm luôn Bắc Bố Chính vào tháng 6 năm 1640. Nguyễn Khắc Liệt bị chúa Trịnh Tráng xử tử.
Tháng 2 năm 1643, chúa Trịnh Tráng sai hai người con xua quân vào chiếm lại được Bắc Bố Chính. Tháng 4, chúa đem cả vua Lê Thần Tông cùng mình vào cửa Nhật Lệ. Tướng Trịnh là Trịnh Đào không phá được lũy phòng thử của Nam Hà, quân Trịnh lại bị bệnh do thời tiết nên Trịnh Tráng phải cho rút quân.
Qua tháng 6 năm 1643, theo đề nghị của chúa Trịnh để đổi lấy nhiều quyền lợi, ba chiếc tàu chiến Hòa Lan tiến vào cửa biển Thuận An đánh Nam Hà. Thế tử Nguyễn Phúc Tần chưa được lệnh của cha vẫn mang quân ra nghênh chiến, làm một tàu của Hòa Lan bị va phải đá ngầm rồi chìm, chiếc chỉ huy bị quân Nguyễn vây chặt nên thuyền trưởng phải tự đốt tàu, chiếc còn lại chạy thoát được. Vậy là kế mượn tay ngoại bang đánh Nam Hà của Trịnh Tráng thất bại đau đớn.
Chúa Thượng rất vui. Ông khen Thế tử:
– Trước kia tiên quân ta từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế, ta không lo gì nữa.

Nhà văn Khôi Vũ (Nguyễn Thái Hải) ở Đồng Nai

 

 

Có được vài năm yên ổn sau cuộc chiến thứ ba, Nam Hà tiếp tục được chúa Nguyễn cải tổ chế độ thi cử để lấy người tài tham gia chính quyền. Chúa lập ra hai kỳ thi: Chính đồ và Hoa văn. Kỳ thi Chính đồ, các quan Tri phủ, Tri huyện làm sơ khảo, quan Cai bạ, Ký lục, Vệ úy làm giám khảo. Những thí sinh trúng tuyển đứng nhất gọi là Giám sinh, sẽ được bổ nhiệm làm Tri phủ hay Tri huyện, đứng nhì gọi là Sinh đồ được bổ nhiệm làm Huấn đạo, và đứng ba cũng được gọi là Sinh đồ nhưng chỉ được bổ nhiệm làm Lễ sinh hoặc Nhiêu học. Kỳ Thi Hoa văn thì thí sinh trải qua ba ngày, mỗi ngày phải làm một bài thơ, những người thi đậu được bổ nhiệm làm việc trong Tam ty thuộc phủ chúa.
Quân đội Nam Hà tiếp tục được chính quy hóa, kỷ luật và thiện chiến hơn. Lực lượng Thủy binh được coi là nòng cốt và nổi tiếng khắp vùng, các nước đều nể sợ. Nam Hà đã có hơn hai trăm chiến thuyền lớn nhỏ, vừa để chuyển binh lính ra chiến trường, vừa để vận lương tiện lợi. Thuyền của chúa và các quan lớn được chọn từ những chiếc lớn, rộng, tải trọng cao, mũi thuyền được trang trí đep, thậm chí thuyền của chúa còn được nạm vàng. Cùng với các chiến thuyền, thuyền buôn của dân cũng rất nhiều, khi cần, họ được trưng dụng vận chuyển lương thực cho binh lính. Ghe bầu là một loại thuyền buôn của người Chiêm, được một người thợ lành nghề là Thầy Thiểm chuyên làm thuê vừa đóng ghe vừa truyền nghề cho thợ người Việt.
Nhưng những ngày hòa bình để xây dựng Nam Hà lại bị cắt ngang…

***

Năm 1648 xảy ra chiến tranh Trịnh – Nguyễn lần thứ tư. Quân Bắc Hà của chúa Trịnh Tráng còn quân Nam Hà là của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan.
Quân Trịnh chia làm hai đạo. Bộ binh vào đánh Nam Bố Chính, thủy binh đánh vào cửa biển Nhật Lệ. Quân Bắc Hà tiến sát lũy Trường Dục, trấn thủ Nam Bố Chính và quân lính phải liều mình cố giữ lũy. Trước tình thế nguy cấp ấy, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan sai Thế tử Nguyễn Phúc Tần làm Tiết chế các dinh; Phúc Lộc, Tống Hữu Đại và Giám chiến Nguyễn Hữu Dật lĩnh bộ binh; Nguyễn Hữu Tiến lĩnh đội tượng binh. Tham tướng Nguyễn Triều Văn lĩnh thủy binh. Bản thân chúa Nguyễn Phúc Lan cũng lĩnh đại binh tiếp ứng.
Nguyễn Triều Văn khi ấy đã bảy mươi lăm tuổi, rất vui nói với Nguyễn Hữu Dật:
– Ta đã qua tuổi già mà vẫn được chúa tin cậy giao binh quyền cùng con chiến đấu giữ cõi. Thật là vinh dự!
Trước khi vào trận giao chiến, Giám chiến Nguyễn Hữu Dật nói với các tướng Nam Hà tham chiến:
– Phương Nam có một đám mây đỏ hình cái lọng che, ánh sáng rực rỡ, phương Bắc có một đám mây trắng lớn, tản mác như tuyết đang tan, điều này cho thấy quân ta sẽ đại thắng, quân Trịnh thua to.
Rồi ông nói thêm:
– Quân Trịnh cậy đông nhưng không biết rõ địa hình nên phải men theo đường núi mà đi. Nay ta chọn đội quân khỏe mạnh, dũng cảm làm xung kích, chặn đánh bọn chúng, nhất định thắng.
Quân Nguyễn làm theo kế của Nguyễn Hữu Dật. Đội quân xung phong chính là đội tượng binh một trăm thớt voi do Nguyễn Hữu Tiến chỉ huy xông trận vào lúc nửa đêm. Tượng binh là một lợi thế của quân Nam Hà vì vùng này có nhiều voi, bắt từ dãy núi Trường Sơn đem về huấn luyện. Voi cũng là một trong các cống vật mà lân bang phải triều cống, Các địa phương cũng có nơi phải nộp thuế bằng voi. Quân Trtịnh ở Bắc Hà cũng có voi nhưng chủ yếu để vua chúa cưỡi đi, lại ít và không hẳn là lực lượng tượng binh, vì vậy quân Trịnh ừa thấy voi thì hoảng loạn chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy.
Từ thế chủ động, quân Trịnh rơi vào thế bị động, cuối cùng thua to, chạy đến tận sông Linh Giang. Quân Nguyễn định đuổi theo thì nghe tin chúa Thượng bị bệnh, mất trên chiến thuyền. Nguyễn Phúc Tần buộc phải lui quân. Trịnh Tráng cũng rút quân, giữ đất từ Bắc Bố Chính trở ra..
Sau cuôc chiến này, Giám chiến Nguyễn Hữu Dật ở tuổi bốn lăm được chúa Nguyễn thăng chức cai cơ, làm ký lục dinh Bố Chính, phủ Quảng Bình.
Tiếc là không lâu sau đó, tướng Nguyễn Triều Văn qua đời vì tuổi già sức yếu. Nguyễn Hữu Dật đau lòng trước sự mất mát to lớn này. Ông hiểu rằng từ đây mình phải tự quyết định mọi việc, không còn được cha cố vấn như trước nữa.
Thế tử Nguyễn Phúc Tần kế nghiệp cha, túc chúa Hiền. Ông cho lập dinh Lưu Đồn với ba ngàn quân, giao cho Nguyễn Hữu Tiến lam chỉ huy.
Trước đó, Tống Thị bị một người em chồng là Nguyễn Phúc Trung cho là phá hoại Nam Hà nên đe dọa giết, bà này rất sợ hãi nhưng cao tay lại dùng sắc đẹp của mình mà biến ông này từ một người hung hãn thành một kẻ si mê, đồng thời còn nghe lời bà mưu phản. Sự thao túng chính sự của Tòng Thị bị chúa Hiền ở vai cháu, trừng phạt. Bà bị bắt, bị tịch thu khối tài sản đồ sộ đem chia cho dân nghèo. Nguyễn Phúc Trung thì bị giam rồi chết trong ngục.
Lúc này Nguyễn Hữu Dật cảm thấy yên tâm hơn, ông tin là sẽ không còn chuyện đau lòng nào xảy ra ở phủ chúa Kim Long nữa. Thực ra, đó chỉ là sự lạc quan của một viên tướng giỏi ngoài chiến trường chứ không phải của người am tường việc chính sự…

***

Chuyện kẻ lại rằng ở Nghệ An có cô đào hát tên là Thị Thừa vừa xinh đẹp vừa hát hay nên được đưa vào phủ để phục vụ chúa Hiền. Từ đó chúa say nê đào Thừa, bỏ bê chính sự.
Nhiều cận thần nhắc chúa Hiền:
– Xưa nay việc nước phải đặt lên hàng đầu. Mọi người dân Nam Hà đều cần đến chúa!
Chúa Hiền hơi phật ý nhưng giọng nói vẫn giữ được sự điềm tĩnh:
– Ta vẫn chăm lo cho dân, Nam Hà vẫn bình yên đó mà…
– Bắc Hà luôn chờ thời cơ để nam tiến, biên cương Chiêm Thành thì thường bị quấy rối… Chúa hãy bớt thời gian dành cho đào Thừa để cùng chúng thần bàn việc phòng bị cương giới.
Đến đây thì chúa bực mình lắm:
– Không đợi các người dạy dỗ ta! Ta tự biết mình cần làm những gì. Mặt khác, trước đây ta đã đóng góp nhiều công sức cho đất nước thì nay có quyền hưởng thụ.
Mê nghe hát, chúa Hiền cũng thích đọc sách thuật chuyện kim cổ. Một hôm tình cờ chúa đọc được trong sách Quốc Ngữ chuyện Ngô Phù Sai vì say mê nàng Tây Thi mà bị mất nước. Chúa giật mình tự hỏi: “Có khi nào đào Thừa cũng làm cho ta bị mất nước chăng?”. Chúa lại nhớ chuyện Tống Thị làm điêu đứng phủ chúa đời chua Thượng cha mình nà chính tay mình phải trừng trị người đàn bà ấy. Quả thật tài sắc của mỹ nhân thật lợi hại.
Mấy ngày liền, chúa Hiền suy nghĩ về những lời khuyên can của cận thần và nỗi lo mất nước vì một cô đào hát sẽ để lại cho đời sau những tiếng nhơ không thể rửa sạch. Chúa đã nghĩ đến việc đuổi đào Thừa về quê cũ thì lại sợ một lúc nào đó do quá nhớ nhung mình sẽ lại tìm nàng về. Chỉ có cách là đào Thừa phải biến mất hẳn khỏi cuộc đời này. Nhưng sao chúa nỡ ra tay giết nàng, một cô đào hát tài năng vô tội? Cuối cùng, chúa cũng nghĩ ra một cách.
Buổi sáng hôm ấy, sau khi hội nghị với quần thần, chúa cho gọi đào Thừa đến gặp. Cô đào vui vẻ chờ lệnh hát giúp vui cho chúa. Chúa Hiền nói ngay:
– Hôm nay không phải ta muốn nghe giọng hát tuyệt vời của nàng. Mà ta muốn nhờ nàng giúp cho một việc. Đó là giao ngự bào ta ban cho Chưởng dinh Nguyễn Phúc Kiều.
Đào Thừa tuân lệnh đến gặp Nguyễn Phúc Kiều. Chưởng dinh nhận áo, mở ra thì thấy bức thư của chúa dặn mình làm ngay một việc. Lập tức ông cho quân bắt giữ đào Thừa rồi đem dìm nước đến chết. Cô đào hát xinh đẹp chết đi mà không biết vì lý do gì mình bị giết!
Nguyễn Phúc Kiều đến bái kiến chúa Hiền, tâu rằng mình đã thực hiện xong lệnh của chúa. Chúa Hiền thở dài nói:
– Giết một người để cứu muôn người cũng là việc mà ta nên làm phải khômg Chưởng Dinh…
Từ đó chúa Hiền trở lại với viiệc nước tận tụy hơn như để chuộc lỗi với dân.

***

Sau nhiều năm làm thuộc hạ của Nguyễn Triều Văn, khi Tham tướng qua đời không lâu thì Mạc Long cũng theo chân chủ về chốn suối vàng vì tuổi cao sức kiệt. Tuy vậy, trước lúc nhắm mắt ông tỏ ra vui vẻ, hân hoan nói với con trai Mạc Khảo đã lập gia đình và có đứa cháu trai đang tập nói: “Hẳn là khi gặp ta, tổ tiên sẽ vui mừng khen ngợi vì ta đã thực hiện được ước nguyện của các người.”.
Nguyễn Hữu Dật nói với Mạc Khảo mà ông thương như một người em:
– Sức khỏe của ngươi vốn không được cường tráng như những thanh niên khác nên lâu nay không phải bắt vào lính. Nhưng ruộng đất cha ta cấp cho gia đình người quá ít ỏi sao đủ sống. Ta muốn đưa ngươi vào quân ngũ để có đồng lương nhất định cùng một số quyền lợi khác nà yên tâm nuôi gia đình…
Mạc Khảo ngần ngừ:
– Nhưng thuộc hạ quả không thích cảnh chém giết…
– Không phải người lính nào cũng ra trận cả. Mà ngươi không phải người gốc Thanh Hoa, theo quy định không được làm chỉ huy.Ta sẽ sắp xếp cho ngươi làm việc ở một bộ phận hậu tuyến.
Mạc Khảo không thể từ chối lòng tốt của Hữu Dật. Việc của ông trong quân ngũ chủ yếu là thực hiện các lệnh từ cấp trên. Sự tận tụy của ông được Nguyễn Hữu Dật ghi nhận và ưu ái thăng chức. Nhiều người lính khác tỏ ý ganh tị. Hữu Dật nói với họ: “Hãy hoan hỉ với hắn như một cách giúp đỡ người khác vậy”.
Cuôc sống gia đình Mạc Khảo tương đối khá hơn thời Mạc Long nhưng ông vẫn thường than thở với vợ: “Ta biết làm sao để không phải mặc áo lính nữa đây?”. Vợ ông làm sao trả lời được câu hỏi khó ấy. Ông nhìn con trai bé bỏng Mạnh Quý của mình, ưu tư không biết rồi tương lai thằng bé sẽ ra sao…

***

Một bước ngoặt lớn bất ngờ xảy ra với cuộc đời của viên tướng mưu lược Nguyễn Hữu Dật.
Vào năm bà vợ Nguyễn Thị Thiện sinh người con trai tuổi Canh Dần 1650, Hữu Dật bị tố cáo thông đồng với quân Trịnh.
Lúc ấy, Hữu Dật đang là Ký lục dinh Bố Chính. Ông sai quân làm giả áo mũ, cờ xí của quân vua Lê – chúa Trịnh hầu gây rối loạn hàng ngũ quân Bắc Hà. Chính tay ông còn viết thư gửi cho họ Trịnh có lời lẽ tạo lòng tin nơi họ rằng ông ủng hộ Bắc Hà. Tuy nhiên, khi những việc ông làm chưa kịp báo lên chúa Nguyễn thì Tham tướng Tôn Thất Tráng vốn có hiềm khích với ông đã gièm pha với chúa Hiền rằng Hữu Dật mưu phản. Hữu Dật liền bị bắt tống giam vào ngục.
Người cai ngục vốn có cảm tình và nể phục người tù đặc biệt này, kể lại cho ông nghe những lời bàn tán trong phủ chúa:
– Nhiều người nói: Không thể tin được rằng tướng quân làm phản! Người khác đặt vấn đề: Vậy chẳng lẽ việc viết thư cho họ Trịnh là bịa đặt? Người khác khẳng định: Tham tướng Tôn Thất Tráng không vu cáo đâu. Bởi vì chính tướng quân đã im lặng chịu bị bắt kia mà…
Nguyễn Hữu Dật tìm cách tự cứu mình. Đây là cơ hội cho con người mưu lược này quyết định số phận chính mình. Cuối cùng ông cũng nghĩ ra cách. Ông dựa vào tập Anh liệt chí thời Minh bên Trung Hoa mà viết ra tập thơ “Hoa Văn Cáo Thị” để bày tỏ nỗi oan khuất của mình. Truyện kể về Cáo Thị là vợ của Hoa Văn đã tuẫn tiết không để quân giặc làm nhục.
– Hãy giúp ta đưa tập thơ này đến tay chúa.
Viên cai ngục mau mắn nhận lời gửi gắm, trình tập thơ lên chúa Hiền. Trong lòng ông ta không khỏi có đôi chút lo lắng vì sợ mình bị hiểu lầm là bênh vực tội nhân hoặc nhận hối lộ mà làm…
Chúa Hiền nhận tập thơ chưa mở ra đọc mà nhìn viên cai ngục một khoảnh khắc rồi hỏi:
– Ngươi nói thật cho ta nghe đi. Ngươi có tin là Hữu Dật phản ta không?
Viên cai ngục lo lắm. Nhưng ông không thể dối lòng mình dẫu có thể ông sẽ gặp rắc rối. Ông trả lời chúa:
– Bẩm chúa, tôi luôn tin vào tấm lòng trung của tướng quân Hữu Dật.
May quá, chúa Hiền không nói gì thêm, cũng không hỏi thêm câu nào mà cho thuộc hạ quay về.
Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần vốn là người học rông, nghĩ xa. Chúa đọc kỹ Hoa Văn Cáo Thị, hiểu thâm ý của Hữu Dật, lại luận về tính khí và công trạng của ông mà có lòng tin rằng ông thực sự bị oan, chỉ mắc lỗi vội vàng hành động. Chúa giận Hữu Dật chưa thật tôn trọng mình nhưng lỗi ấy có thể bỏ qua sau khi quở trách. Cân nhắc kỹ, chúa Hiền tha cho Hữu Dật về lại làm tướng.
Chúa nói với ông: “Ta không muốn xảy ra chuyện tương tự như lần này. Như là cái tinh tự kiêu thuở trước trong ngươi vẫn chưa hết hẳn!”. Nguyễn Hữu Dật giật mình trước lời nhắc nhở vừa nghiêm khắc vừa khéo léo của chúa Hiền. Ông tự nhủ lòng từ nay phải hết sức cảnh giác với chính mình…

***

Sau bốn cuộc chiến đều do quân Trịnh chủ động tấn công, lần thứ năm thì chiến tranh do quân Nguyễn phát động. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần quyết định tấn công Bắc Hà vừa để phô trương lực lượng, vừa giành thế chú động.
Còn đang cân nhắc tìm tướng để giao phó trọng trách, một đêm kia chúa nằm mơ tấy thần nhân hiện ra cho mình bài thơ:
Tiên kết nhân tâm thuận,
Hậu thi đức hóa chiêu,
Chi diệp kham tồi lạc,
Căn bản dã nan dao.
(Trước là tập hợp lòng người, sao cho hòa thuận,
Sau là thi hành đức hóa sao cho rõ ràng,
Cành và lá có khi còn rơi gãy,
Rễ và gốc kia khó mà lung lay)
Chúa nghĩ chữ Thuận là Thuận Nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến, còn chữ Chiêu chính là Chiêu Văn hầu Nguyễn Hữu Dật.
Chúa Hiền nhận định đúng là ở Nam Hà, hai tướng này rất xứng đáng. Luận về nguồn gốc thì Hữu Dật là nguồi trong họ, còn Hữu Tiến do Đào Duy Từ tiến cử. Luận về tài năng thì mỗi người một vẻ, ngang ngửa nhau. Duy tính cách thì khá khác nhau: Hữu Dật lấy việc bảo vệ lãnh thổ làm trọng còn Hữu Tiến chọn công danh để phấn đấu. Dùng hai người này khó nhất là làm sao để tránh gây hiềm khích, bất hòa giữa họ. Phải tùy tình hình mà quyết định sao cho vừa hợp lý, vừa hợp tình.
Cuối cùng, chúa Hiền cử Nguyễn Hữu Tiến làm Tiết chế, tổng chỉ huy, Nguyễn Hữu Dật làm Đốc chiến được giao bày kế sách đánh ra Bắc.
Sau khi đi quan sát các doanh trại, đồn lũy của Nam Hà và nắm tình hình quân đội Bắc Hà qua các thám tử, Nguyễn Hữu Dật thưa với chúa:
– Thần xin chúa chia quân làm ba đạo. Thượng đạo tiến lên trước, đánh vào Tất Đồng. Trung đạo tiếp ngay sau để làm thanh ứng. Trịnh Đào đang giữ đất Hà Trung, nhận tin này thì thế nào cũng đoán chắc là ta chỉ đánh vào Tất Đồng thôi, cho nên sẽ không bỏ thành lũy mà đi cứu viện. Ta nhân đó, cho quân hạ đạo tiến đến Hoành Sơn để đánh úp Lê Hữu Đức trấn giữ ở đấy rồi thừa thế mà tấn công, cướp lấy dinh Hà Trung. Đó là kế điệu hổ xuất sơn, dẫn xà nhập huyệt (Dẫn cọp ra khỏi rừng, đưa rắn vào hang), đánh một trận mà đã có thể toàn thắng.
Chúa nghe xong khen:
– Ngẫm xem diệu kế của ngươi, dẫu mưu thần đời xưa chẳng qua cũng chỉ đến thế!
Theo kế của Nguyễn Hữu Dật, Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến đem quân thuỷ bộ vượt sông Linh Giang đánh Trịnh, chiếm được châu Bắc Bố Chính đến Đèo Ngang. Quân Nguyễn lại tiếp tục phá được trận tuyến Dèo Ngang, để tiến ra mạn bắc Hoành Sơn. Quân Trịnh bị bất ngờ, hai tướng Nguyễn lại phối hợp ăn ý, chiếm được bảy huyện của Nghệ An, phía nam sông Lam. Quân Trịnh rút về giữ An Trường, củng cố đội ngũ chiến đấu, quyết giữ phần đất còn lại cùa xứ Nghệ.
Cuộc chiến kéo dài, quân Nguyễn không tiến tiếp được ra phía Bắc đành chiếm đóng bảy huyện đã lấy được.

***

… 5 năm trôi qua nhanh chóng.
Từ An Trường, quân Trịnh nhiều lần qua sông Lam đánh với quân Nguyễn nhưng vẫn không giành lại được phần đất đã mất. Phía Nguyễn, thời gian dài xa nhà sống nơi đất khách, còn phải chiến đấu bất cứ lúc nào, lòng quân Nam Hà không còn phấn khởi như ngày đầu chiến thắng. Quân Trịnh kiên trì tổ chức phản công lấy lại dần nhũng phần đất bị chiếm đóng. Chúa Hiền tiếc lắm nhưng đành lệnh cho quân mình rút về Nam. Nguyễn Hữu Tiến rút quân trước mà không cho Nguyễn Hữu Dật biết, đến khi đại quân Trịnh kéo đến đánh, ông phải dùng kế mới rút được an toàn. Bảy huyện của Nghệ An vùng Hà Trung lại được quân Trịnh thu hồi, kể cả vùng Bắc Bố Chính sau Dèo Ngang. Quân Nguyễn về giữ Nam Bố Chính như trước. Họ đem theo một số lớn dân cư ở Nghệ An qua phía nam sông Linh Giang, làm nguồn nhân lực khai khẩn những vùng đất mới. Cuộc chiến lần thứ năm chấm dứt.

KHÔI VŨ

(Trích tiểu thuyết Kiếm hoa)

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com