Lưu Bang không quan tâm, từ đó mới làm nên đại sự, trở thành Hán Cao Tổ. Còn Ba Vành của ta giàu tình cảm, bị thương vẫn xả thân cứu người, đó là nghĩa khí của bậc đại anh hùng. Ta chỉ sợ sau này nếu lại lâm vào tình thế hiểm nguy, Ba Vành liều lĩnh hành động… nhỡ không thoát được thì sao?…

TRẬN TAM LỘNG SÔNG HOÁ
Sông hát tình trai thắm má đào.
Thống quân Phạm Văn Lý chỉ huy 50 chiến thuyền lớn nhỏ cấp tốc quay về tiếp cứu đội thuyền lương, nhưng tất cả 8 thuyền lương đều bị cháy rụi.
Lý tức giận đuổi theo đoàn thuyền nghĩa quân hộ tống 2 thuyền lương mà họ vừa cướp được.
Khán Vượt là chú ruột của Thị Năm, chỉ huy 10 thuyền hộ tống, ông hô quân san bớt những bao lương khô để thuyền nhẹ chạy nhanh, hầu thoát khỏi đội chiến thuyền triều đình đang đuổi theo. Sau khi san hết lương thực, Thị Minh và Thị Năm nhảy qua thuyền nhỏ của nghĩa quân, rồi quăng mồi hoả đốt luôn 2 thuyền lương để đánh lừa thuỷ quân triều đình.
Vũ Thị Minh nói với Khán Vượt:
– Chú cháu ông đưa năm thuyền chạy vào sông Hoá, tôi dẫn năm thuyền hướng về Nam Định, để địch phải phân tán lực lượng, ta dễ có cơ hội thoát hơn, có thiệt hại thì chỉ mất một nửa.
Khán Vượt tán đồng, cùng cháu là Thị Năm dẫn 5 thuyền đi đầu chẻ vào ngã ba sông Hoá, giang phận này ông quen thuộc, vì làng Tam Lộng nằm ven sông cách đây 3 dặm là quê hương của chú cháu ông.
Năm thuyền nghĩa binh đi sau do Vũ Thị Minh chỉ huy dàn hàng ngang che chắn phía sau, để chiến thuyền triều đình không kịp thấy những thuyền đi trước chẻ vào sông Hoá. Minh nghĩ: Nếu chúng thấy thì cũng phải chịu thôi!
Sau đó, Minh ra lệnh cho 5 thuyền mình băng nhanh về hướng Nam Định.
Thống quân Phạm Văn Lý là tướng lão luyện không dễ bị đánh lừa, ông đứng trên thuyền cao chỉ huy dõi ống nhòm quan sát. Nếu thuyền nghĩa quân nhiều thì có thể Lý không nhận ra, đây chỉ có mươi thuyền đang chạy phía trước, giờ thấy bớt hẳn một nửa, Lý biết ngay là thuyền nghĩa quân đã chia ra chạy trốn.
Đến ngã ba sông Hoá đâm ra, Phạm Văn Lý nói với Trương Phúc Đặng:
– Phò mã nắm 20 chiến thuyền băng vào sông Hoá tìm bắt thuyền giặc đang chạy vào đó, mang theo 3 tiểu thần công. Tham tán Nguyễn Công Trứ sẽ theo hỗ trợ phò mã. Cẩn thận đừng để bị phục kích. Còn tôi đuổi theo bọn giặc đang chạy về Nam Định.
Trương Phúc Đặng gật đầu, nhưng trong bụng nghĩ: Hiệp Tổng trấn này khôn thật! Lão dặn ta cẩn thận cho có vẻ tình nghĩa, lại cho Nguyễn Công Trứ theo ta làm quân sư, hay muốn canh chừng dòm ngó ta đây? Ta vốn không ưa gã Trứ này. Ta biết thừa Văn Lý đẩy ta vào sông nhỏ, để lão theo thuyền lớn băng phía ngoài. Chẳng qua ngoài sông biển rộng khó bị phục kích. Hơn nữa lão đã cho chiến thuyền của Nguyễn Văn Phong chận hướng Nam Định, hai mặt hiệp công sẽ mau thắng lợi. Hừ! Mình mà làm Thống quân thì cũng tính toán vậy thôi. Không sao! Giặc chạy vào sông Hoá chỉ có vài thuyền nhỏ, mình phải nhanh chóng đánh bắt, để vua thấy là phò mã này dẫu vào chỗ khó khăn vẫn lập được công trạng.
Thủ lĩnh Phan Ba Vành thấy đội thuyền của quan quân triều đình đang đuổi theo mình bỗng dưng dừng lại, rồi quay mũi chạy về hướng Nam? Ba Vành nhìn xa xa, thấy lửa khói cuộn cao, ông biết địch đang quay về cứu đội thuyền lương.
Ba Vành suy nghĩ thật nhanh, rồi quyết định cho 10 thuyền của mình quay mũi đuổi theo phía sau chiến thuyền quân triều đình, mục đích gây sự quấy rối để chúng không kịp đuổi đánh đội thuyền của Khán Vượt đang bảo vệ Thị Minh.
Gió thuận chiều, 10 thuyền trung của Ba Vành nhẹ chạy băng băng, chẳng mấy chốc đã sắp đuổi kịp đội thuyền đông đảo của quân triều đình.
Ba Vành chợt thấy nhiều thuyền quân triều đình chẻ vào sông Hoá, ông phân vân, suy đoán: Chắc chúng thấy thuyền quân ta vào đó nên chia nhau đuổi? Mình nên đuổi theo đội thuyền trước, hay đội vào sông Hoá? Đuổi theo cánh trước sẽ đụng độ nhiều thuyền lớn của quân triều đình. Cánh thuyền địch đang vào sông Hoá chắc cũng trông thấy mình, chúng sẽ chia thuyền ra nghênh chiến, cánh thuyền sơn đỏ phía trước mà quay lại đánh thì mình lâm vào thế bị chận hai đầu, địch nhiều súng thần công, nguy hiểm lắm!
Chi bằng ta cho thuyền chẻ vào sông Hoá đánh tập hậu những thuyền địch đang vào, để tiếp cứu nghĩa quân trong đó. Đội thuyền địch phía trước đang mải đuổi theo Khán Vượt và Thị Minh, chắc chúng không thấy chiến thuyền ta chẻ vào sông Hoá đâu…
Ba Vành cho thuyền chậm lại, dõi ống nhòm quan sát… Chờ cho đội thuyền triều đình vào sông Hoá xong, lúc ấy đội thuyền sơn đỏ phía trước cũng đã khuất xa. Ba Vành nói với hai phó tướng theo mình là Lê Đức Hựu và Lê Bứa:
– Anh em ông giữ một thuyền ém lại ngã ba sông này, nếu thấy những thuyền sơn đỏ của quân triều đình phía trước quay lại, thì lập tức giật pháo báo động, để những thuyền tôi kịp rút ra, tránh bị đánh tập hậu.
Lê Đức Hựu gật đầu:
– Cẩn thận vậy cho chắc. Một mình tôi ở lại canh địch được rồi. Thủ lĩnh và Lê Bứa mau vào tiếp cứu anh em.
Bên trong sông Hoá, Khán Vượt ngồi thuyền sau thấy có nhiều chiến thuyền quân triều đình đuổi theo. Lúc ấy 5 thuyền của ông đã đến giáp ranh làng Tam Lộng. Khán Vượt lo lắng bảo Thị Năm:
– Thuyền ta chở lương thực nặng không thể chạy nhanh bằng thuyền trung của địch, chỉ chốc nữa chúng sẽ đuổi kịp ta. Vậy cháu dẫn hai thuyền tấp vào bờ bên này, chú đưa năm thuyền vào bờ bên kia, hô anh em và dân làng cấp tốc chuyển lương thực lên bờ tẩu tán. Gọi thêm người của mình, chuẩn bị chống trả. Mình ít quân nhưng thông thuộc địa hình, có lợi thế trên bờ đánh xuống.
Thị Năm “vâng ạ”, rồi nói:
– Cho cháu đục thuyền chúng nhé?
Khán Vượt lắc đầu:
– Đêm tối thì được. Ban ngày sợ chúng trông thấy, nguy hiểm lắm!
– Liệu được cháu mới đánh. Chúng không ngờ đâu.
– Phải hết sức cẩn thận.
Năm thuyền nghĩa quân tẻ ra 2 phía, nhanh chóng tấp vào hai bờ, trên bờ lố nhố nhiều người vẫy tay chờ đón, nhiều người tất tả chạy qua chạy lại, í ới gọi nhau rộn một quãng sông.
Nghĩa quân hối hả vác những bao gạo chuyển lên bờ, nhiều đàn ông trai tráng và phụ nữ nhanh chóng chia nhau khuân gạo chạy. Thị Năm vác hẳn bao gạo 50 cân quăng ịch xuống bờ cỏ, cô vấn vội mái tóc đen dài, nói với hai bà đang chạy lại:
– Hai thím khuân giấu vào bụi, rồi quay lại nhanh nhanh nhé?
Hai bà gật, hè nhau vừa khuân vừa kéo lê bao gạo nặng trên cỏ, nói với nhau:
– Con bé khoẻ thật!
– Cháu ông Khán Vượt mà!
Đội thuyền 20 chiếc của quân triều đình lừng lững tiến đến. Trương Phúc Đặng đứng trên sàn thuyền thứ hai, hét to để Quản cơ Mạc Đồng chỉ huy thuyền đi trước nghe:
– Mau bắn vào thuyền chúng!
Nguyễn Công Trứ đứng bên Phúc Đặng ngăn lại:
– Cẩn thận! Có dân đấy!
– Dân gì mà dân? Toàn giặc cả!
Rồi hét lớn:
– Theo lệnh ta: Mau bắn!
Quản cơ Mạc Đồng đứng trên thuyền đi đầu không quay lại, cũng không trả lời, đích thân châm hoả. Đạn thần công bắn ở cự ly gần, ngay phát đầu đã trúng mạn thuyền nghĩa quân, thuyền chao đảo nghiêng mạnh rồi xô hẳn vào bờ, bị thủng bể một lổ lớn và phát cháy.
Trương Phúc Đặng liên tiếp ra lệnh:
– Bắn tiếp thuyền thứ hai. Bắn mau!
Nhiều tiếng nổ vang lên, cả hai thuyền nghĩa quân do Thị Năm chỉ huy đều trúng đạn. Một thuyền bị hai phát đạn thần công đang từ từ chìm phần đuôi. Nhiều nghĩa quân trên thuyền bị trúng đạn, dân chúng chuyển gạo trên bờ sợ hãi kêu la chạy tứ tán.
Tham tán Nguyễn Công Trứ nhăn mặt lắc đầu. Trương Phúc Đặng cho thuyền mình tiến thẳng sang phía bờ bên kia, có 5 thuyền theo sau hộ tống.
Bên này, Quản cơ Mạc Đồng cho thuyền tấp vào, hô quân tràn lên bờ đuổi bắt nghĩa quân. Súng tiểu thần công trên thuyền bắn theo hỗ trợ. Quân triều đình với lực lượng đông đảo nhanh chóng kiểm soát trận địa.
Trên thuyền nghĩa quân bị nghiêng do đạn bắn thủng một bên hông, Thị Năm tả xung hữu đột cố thoát khỏi vòng vây quân triều đình. Hai lính triều đình đã bị cô chém trọng thương, những tên khác tuy sợ nhưng vẫn hè nhau vây kín lấy cô, chúng không dám tiến gần mà cầm kích dài đâm chỉa vào. Đôi dao bầu của Năm loang loáng đỡ gạt, cô lúng túng lùi dần, một dao bầu của Năm bị hai cây kích đánh văng, cô chỉ còn một dao nhưng vẫn cố gắng chống đỡ.
Quản cơ Mạc Đồng gật gù: Nữ tặc này dữ thật! Nó xinh gái đấy chứ. Phải bắt sống con này mới được.
Mạc Đồng nhảy vụt sang thuyền nghĩa quân, quơ đao bảo bọn lính đang vây Thị Năm:
– Để tao trị con tặc này cho.
Mạc Đồng là cử nhân võ nổi tiếng triều đình, biết cô gái nghĩa quân này cũng nòi võ nghệ, nhưng sức gái sao bằng đàn ông. Đồng nghĩ cô ta chỉ còn một dao bầu, không thể chống lại thanh đao dài nặng của hắn.
Mạc Đồng tự tin xông tới, chém ngang một đao để đối thủ phải lùi, hắn tiến nhanh bước nữa và quay đao, Năm đỡ được nhưng dao bầu suýt văng. Mạc Đồng liên tiếp tấn công, nương tay không muốn chém chết cô gái xinh mà hắn muốn bắt. Đồng hét:
– Đầu hàng đi. Đừng để ta phải xuống tay.
Năm quay người chạy về cuối đuôi thuyền, Mạc Đồng đuổi theo, hét:
– Mày không thoát được đâu!
Năm bất ngờ quay lại, tay trái vung mạnh, Mạc Đồng kêu thét! Mũi trâm nhọn cài tóc của Năm đã xuyên ngang cổ hắn, Năm cúi người lia tiếp một dao bầu, tên Quản cơ hoàn toàn đổ gục.
Lợi dụng lúc bọn lính đang thất thần lúng túng, Năm lao người xuống sông và lặn mất.
Khi Năm ngoi lên thì đã sát bờ, cách xa thuyền nghĩa quân sắp chìm hơn 10 mét, cô nhanh nhẹn lên bờ, hất mạnh đầu mấy cái để giũ nước, rồi chạy băng băng trên đất cỏ quê mình.
Bên kia sông Hoá, Trương Phúc Đặng vừa qua sông đã cho súng thần công bắn cháy một thuyền của Khán Vượt đang đậu để dân quân chuyển gạo lên bờ. Đặng hừng chí thúc đội pháo bắn tiếp.
Bỗng có tin báo từ những thuyền sau đưa lên: Quản cơ Mạc Đồng đã bị giết!
Trương Phúc Đặng rụng rời! Đang hăng chiến thắng hắn rụt lại, nghĩ Đồng giỏi võ hơn mình, thế mà bị giết thì tướng giặc phải rất ghê gớm! Hay Ba Vành? Trương Phúc Đặng nhụt chí mất cả tinh thần, nhưng có Tham tán Nguyễn Công Trứ đứng sau nên cố giữ bình tĩnh, hắn quay lại nói với quân sư:
– Chắc ta bị giặc phục?
Nguyễn Công Trứ nghe tin cũng sợ, gật đầu:
– Cũng có thể? Đây là vùng địch.
– Quân sư tính sao?
– Đã vào đến đây rồi thì phải đánh. Dẫu sao quân ta vẫn nhiều hơn chúng, lại có súng thần công.
Đặng phân vân:
– Thì đánh chứ sao… – Rồi đề nghị: Ta vừa đánh vừa rút ra cho an toàn. Mình cũng đã thắng rồi, đã bắn cháy bốn tàu địch.
Nguyễn Công Trứ gật đầu.
Khi 20 chiến thuyền triều đình vừa quay mũi ra được một đoạn thì Trương Phúc Đặng chợt thấy xa xa, những thuyền nghĩa quân treo cờ vuông đang băng băng tiến vào. Đặng giật mình:
– Đúng ta bị giặc phục!
Nguyễn Công Trứ bình tĩnh nói:
– Tướng quân cứ cho thuyền thẳng tiến đối đầu với địch. Không bắn vào bờ nữa mà tập trung bắn vào thuyền giặc.
Trương Phúc Đặng nghe lời. 20 chiến thuyền triều đình giàn thành ba hàng song song thẳng tiến. Ba khẩu tiểu thần công thay nhau nã đạn.

Thủ lĩnh Phan Ba Vành đứng trên thuyền chỉ huy dõi ống nhòm quan sát, nói với tướng Lê Bứa:
– Thuyền địch đang ra. Chẳng biết chúng có đụng độ gây thiệt hại gì cho quân ta trong đó không?
Lê Bứa nói:
– Địch nhiều thuyền đông quân, lại nhiều súng thần công. Ta chỉ có hai tiểu thần công. Vào thế đối địch thủ lĩnh cứ cho bắn chặn. Tôi dẫn anh em chia hai cánh phục hai bên sông, hò hét nghi binh, bắn tên tẩm mồi hoả. Địch không biết quân ta trên bờ đông bao nhiêu. Đánh cho chúng sợ không dám vào sông này nữa.
Ba Vành gật đầu:
– Ta sắp đối đầu với thuyền địch. Ông định đánh ra sao?
– Ta có hai súng tiểu thần công, đặt trên thuyền sẽ khó xoay sở. Tôi đề nghị thủ lĩnh đưa súng vào bờ, mỗi bên một khẩu, khi thuyền ta và địch sắp đối đầu, chắc chắn sẽ chậm lại, dồn cục, tôi chỉ huy bắn vào hông chúng.
Ba Vành gật đầu:
– Rất hay! Trong lúc lúng túng, súng thần công địch sẽ không kịp bắn thuyền ta, nếu có bắn thì cũng không chính xác. Tôi sẽ lên thuyền đi đầu đâm thẳng vào thuyền chỉ huy của địch, làm rối loạn hàng ngũ chúng.
– Thủ lĩnh không nên đi trên thuyền đầu, nguy hiểm lắm.
Ba Vành gật:
– Thuyền đầu trống người, thuyền sau đẩy tới, tôi sẽ đi thuyền thứ hai này, nhảy lên thuyền chỉ huy của chúng. Đánh rắn phải đánh dập đầu. Giết được những tên chỉ huy là ta thắng.
Lê Bứa gật đầu. Ba Vành nói tiếp:
– Tôi không sợ đối đầu với tướng địch, nhiều tên cũng không sợ, tôi chỉ sợ pháo thần công thôi. Đánh giáp lá cà ở cự ly gần chúng sẽ không bắn được.
Lê Bứa biết trận thuỷ chiến sắp tới đầy sinh tử, một mất một còn, thủ lĩnh Ba Vành của ông dũng cảm, nhưng một mình ông liệu có đủ đánh bại nhiều tướng lãnh trên tàu chỉ huy của quan quân triều đình?
Tình huống cấp bách, Lê Bứa suy nghĩ thật nhanh, nói:
– Tôi ở lại thuyền với thủ lĩnh.
Ba Vành gật:
– Cảm ơn ông.
Trên thuyền chỉ huy của Trương Phúc Đặng, Tham tán Nguyễn Công Tứ soi ống nhòm thấy xa xa 2 thuyền nghĩa quân tách ra tẻ vào hai bên bờ, ông nhăn trán suy nghĩ, rồi thấy những thuyền còn lại vẫn đang thẳng tiến về đội thuyền mình, không có vẻ gì ngán sợ. Công Trứ nói với Phúc Đặng:
– Không biết giặc đang âm mưu gì? Có hai thuyền của chúng tấp vào hai bên bờ. Chúng nghi binh hay trốn chạy?
Phúc Đặng cũng suy nghĩ. Công Trứ nói:
– Thuyền ta cứ tiến. Ông cho bắn vào hai thuyền địch vừa tách ra, bắn cả những thuyền sắp đối đầu. Thuyền ta lớn sẽ đâm hỏng thuyền chúng.
Trương Phúc Đặng gật đầu, giờ ông ta chỉ biết nghe theo lời quân sư. Đặng thầm bào chữa: Không nghe lão, lão về tâu với vua thì mình mệt. Nghe lão, nếu nhỡ có thua, lão sẽ chịu trách nhiệm.
Trương Phúc Đặng có 3 khẩu tiểu thần công, 2 khẩu bắn về hai thuyền đang vào bờ, một khẩu bắn thẳng vào đội thuyền nghĩa quân đang tiến tới.
Đặng leo lên bệ cao quan sát, thấy xa xa hai thuyền nghĩa quân tách ra, đang quay mũi nhập vào đoàn thuyền đang tiến tới. Cả Phúc Đặng và Công Trứ đều nghĩ: Chắc hai thuyền đó sợ đậu gần bờ khó xoay trở dễ bị bắn chìm, nên cho thuyền quay ra quyết tử với quân triều đình.
Trương Phúc Đặng buột miệng nói:
– Có thể những tên tướng giặc sợ ta nên cho thuyền tấp vào để trốn chạy?
Nguyễn Công Trứ gật gù nhìn Trương Phúc Đặng, nghĩ: Tướng giặc không hèn nhát như ông nghĩ đâu. Không khi nào họ bỏ quân mà trốn chạy.
Chỉ còn hơn 50 mét nữa là hai đội thuyền đối đầu, không khí căng thẳng tràn ngập cả đôi bên. Mặt sông lặng im như nín thở, không khí ngột ngạt nóng bức, trên trời không thấy bóng chim bay.
Ba Vành hai tay nắm chặt 2 lao nhọn, Lê Bứa bên cạnh cũng tay lao tay kiếm, các nghĩa binh phía sau cầm chắc vũ khí, sẵn sàng quyết tử.
Ba khẩu tiểu thần công trên hai chiến thuyền triều đình vừa quay lại nòng, chưa kịp mồi hoả thì có tiếng nổ trên bờ tả ngạn, tiếp theo tiếng nổ bên hữu ngạn: Hai phát đạn thần công từ bờ bắn ra, một phát trúng ngay hông thuyền sơn đỏ đi đầu.
Nguyễn Công Trứ giờ mới hiểu ra, ông vỗ trán:
– Tướng giặc này giỏi thật! Thuyền ta lâm vào thế bị bắn ngang hông.
Trương Phúc Đặng cau mày, định ra lệnh cho pháo thủ quay súng vào bờ bắn trả thì Công Trứ ngăn:
– Biết chúng trên bờ chỗ nào mà bắn? Ông cứ tập trung bắn thẳng vào những thuyền giặc trước mặt.
Các pháo thủ lại hấp tấp quay nòng. Thời gian đó hai chiến thuyền nghĩa quân tiên phong băng thẳng vào ba thuyền đi đầu của quan quân triều đình chẳng chút e dè.
Nguyễn Công Trứ cau mặt:
– Bọn giặc liều lĩnh thật! Thuyền ta to cứ đâm thẳng vào chúng, xem ai hơn ai?
Trương Phúc Đặng vung kiếm chỉ huy:
– Chuẩn bị xung phong, tràn qua thuyền địch. Ai chần chừ sẽ bị trị tội.
Sau những tiếng răng rắc va chạm, hai thuyền nghĩa quân tiên phong đã đâm thẳng vào hai chiến thuyền quân triều đình. Những thuyền đi sau vẫn tiếp tục lao tới, chếch mũi qua bên để tránh va chạm mạnh. Nhiều tiếng hét xung phong, nhiều lao nhọn phóng vùn vụt sang thuyền quân triều đình. Một mũi lao chính xác cắm phập vào giữa ngực phó Quản cơ đứng trước Trương Phúc Đặng làm viên tướng ngả ngửa. Đặng sợ hãi thụp đầu, Nguyễn Công Trứ tái mặt lùi lại, rồi nhanh chân xuống khoang tàu chỉ huy.
Trương Phúc Đặng đứng trên đài cao quan sát không kịp xuống khoang, lính quýnh nấp sau cột buồm để tránh những ngọn lao tiếp theo. Đặng chỉ kiếm hô quân tràn lên vây hai tướng nghĩa quân đang tung hoành, người cao lớn là Ba Vành tay trái lăm lăm lao nhọn, tay phải huơ đại đao, người kia là Lê Bứa sử dụng kiếm dài. Sau lưng họ là hàng chục dũng sĩ nghĩa quân sẵn sàng quyết tử.
Trương Phúc Đặng muốn chạy xuống khoang chỉ huy nhưng sợ hai tướng giặc trông thấy đuổi theo, hắn hét lính tràn lên, chân lùi dần về phía sau. Khi thấy đông lính mình từ những thuyền khác nhảy qua tiếp cứu, Đặng tạm yên tâm, khom người vừa bò vừa chạy về phía những lu nước mưa, lấm lét nấp sau lưng lính tráng, giở một nắp lu ra rồi chui vào nấp.
Trên sàn thuyền chỉ huy của quan quân triều đình, hai bên đánh giáp lá cà, cực kỳ hỗn loạn. Quân triều đình từ những thuyền sau tấp vào, ồ ạt nhảy lên áp đảo. Nghĩa quân ít nhưng toàn những tay võ dõng, họ quây thành hai vòng nhỏ để chiến đấu và bảo vệ nhau. Thủ lĩnh Ba Vành như mãnh hổ tả xung hữu đột, đại đao tàu chuối của ông lia đến đâu, quân triều đình sợ hãi dạt ra đến đấy, Lê Bứa tiến lên chém những đường gươm quyết định. Hai tướng vừa tung hoành vừa bảo vệ nhau hữu hiệu.
Nguyễn Công Trứ ngồi trong khoang chỉ huy nhìn ra không thấy Trương Phúc Đặng đâu? Chỉ thấy hai Quản cơ của hai thuyền bên nhảy qua, đang chỉ huy lính vây áp đội nghĩa quân Ba Vành. Hai bên đánh giáp lá cà, không thể bắn súng thần công được. Quân triều đình có tràn lên tiếp nữa cũng bị giết dần, Ba Vành quá lợi hại và dũng mãnh, càng đánh càng hăng, dường như không biết mệt.
Nguyễn Công Trứ vội sai lính chạy ra kéo viên Quản cơ trên thuyền thứ ba vừa hô quân nhảy lên tiếp cứu. Công Trứ nói nhanh với Quản cơ:
– Không thể dùng giáo mác chống lại Ba Vành được đâu! Ông cho quân lùi lại, tập trung cung nỏ bắn hạ hai tướng giặc. Dẫu ta hy sinh nhiều, nhưng cố bắn bị thương hay giết được Ba Vành là xong.
Trong khi đó, đạn thần công từ hai bên bờ vẫn bắn ra, thêm ba chiến thuyền triều đình bị cháy. Bên thuyền nghĩa quân cũng có hai thuyền trúng đạn chìm. Thuyền chiến hai bên vội tản ra để tránh bị cháy lan.
Ngoài cửa sông, tướng Lê Đức Hựu sốt ruột! Ông để hai người ở lại canh chừng, rồi theo thuyền vào sông Hoá phụ giúp anh em.
Thấy trận thuỷ chiến hỗn loạn dữ dội kéo dài không có lợi cho nghĩa quân, tướng Lê Đức Hựu quyết định cho phần lớn quân lên bờ, 20 quân đưa 6 thuyền còn lại quay ra ngã ba sông để giảm bớt thiệt hại. Còn ông cùng 30 nghĩa quân dũng cảm trên 2 thuyền tiến vào giải vây cho Ba Vành và Lê Bứa.
Trong khoang chỉ huy, Nguyễn Công Trứ nhìn ra thấy lính triều đình tuy đông nhưng nhát sợ Ba Vành, những ai cả gan tiến lại gần đều bị chém chết. Công Trứ nghĩ Ba Vành ghê gớm quá! Cũng may hắn vừa đánh vừa canh chừng bảo vệ cho quân tướng. Chúng chỉ còn năm sáu người… Ta chưa bao giờ thấy ai khoẻ và giỏi như Ba Vành. Nếu còn một mình, hắn xông vào khoang chỉ huy thì chẳng ai ngăn cản được. Nguyễn Công Trứ nghĩ đến đó mà sợ.
Qua một loạt tên bắn tới, Ba Vành biết quân triều đình đã đổi chiến thuật, ông vừa vung đao gạt tên vừa nói với Lê Bứa phía sau lưng mình:
– Tướng quân lùi dần ra phía mạn thuyền. Ta nhảy qua thuyền địch gần bên để tránh tên bắn, vừa đánh vừa tìm cách nhảy xuống sông bơi vào bờ.
Lê Bứa gật. Ba Vành nói tiếp:
– Tướng quân cứ bơi trước, lặn được thì tốt. Tôi sẽ bảo vệ sau. Mình bơi thật mau. Địch bắn tên không đến sẽ nã pháo.
Lê Bứa nói:
– Thủ lĩnh đừng quá lo cho tôi. Trên cạn hỗ trợ nhau được, nhưng dưới nước thì khó. Ta chia nhiều cánh, mỗi người bơi một hướng để phân tán địch.
Ba Vành gật đầu rồi phóng người qua thuyền kề bên, ông múa đao như vũ bão dọn đường đi trước, Lê Bứa và ba dũng sĩ còn lại theo sau. Mưa tên bắn theo khiến một nghĩa quân đi cuối ngã quỵ.
Vừa đặt chân lên sàn thuyền địch, Ba Vành xông thẳng lại phía viên Quản cơ chỉ huy, vung đao chém mạnh, Quản cơ chỉ đỡ được một đao, đến đao thứ hai thì cánh tay cầm kích của hắn văng xuống sàn thuyền, máu phun tung toé. Vành không cần chém bồi, đạp hắn văng ùm xuống sông rồi quay lại bảo vệ anh em, trở thành tướng đoạn hậu. Vành đẩy nhẹ vai Lê Bứa, hất mặt về phía hai dũng sĩ là bạn đồng môn còn lại:
– Mau nhảy xuống sông bơi vào bờ.
Lê Bứa và hai dũng sĩ nhảy ùm xuống sông, họ sải mạnh tay bơi cách xa nhau, nhưng đều nhắm đích vào bờ.
Còn một mình, Ba Vành vẫn chưa chịu nhảy xuống sông để bơi thoát, ông vung đao tung hoành, đuổi chém quân triều đình đang khiếp sợ chạy dạt về cuối khoang thuyền, sau đó mới cắp đao nhảy tòm xuống sông.
Ba Vành bơi ngửa để kịp thấy những mũi tên bắn theo, lưỡi đao của ông gạt nhanh những mũi tên rơi xuống nước. Vành chỉa mũi đao về phía trước, hụp người lặn hai hơi, chốc sau đã ngoi lên gần bờ bên kia. Ông vuốt nước trên mặt, ngoảnh nhìn ra sông, nhiều chiến thuyền địch đang cháy rực. Vành không còn thấy tên bắn theo, thay vào đó là những phát đạn thần công làm nước sông cuộn trào tung toé.
Ba Vành nhanh chóng lên bờ, giờ mới thấy đau nhói sau lưng! Thì ra ông bị mũi tên vào bả vai lúc nào không biết.
Khán Vượt và Thị Năm mừng rỡ chạy đến. Vành hỏi ngay:
– Lê Bứa đâu?
Khán Vượt lắc đầu:
– Chưa thấy lên?…
Một dũng sĩ lên bờ trước nói:
– Ông Bứa bơi sau tôi mà?…
Vành nghiến răng, nắm chuôi tên giật mạnh, máu ở vai ông trào ra khiến Thị Năm nhăn mặt.
Vành chẳng nói chẳng rằng, chạy dọc theo bờ tìm phó tướng của mình.
Vành thấy xa xa, cách bờ hơn trăm mét, Lê Bứa đang vẫy tay cầu cứu, ông bị tên vào lưng, đang gắng gượng bơi và đuối dần…
Ba Vành phóng người xuống sông, Khán Vượt và Thị Năm cũng theo sau.
Ba Vành nắm được một tay Lê Bứa, ông kéo mạnh và đẩy về phía Khán Vượt, Vượt hiểu ý, hai người vừa bơi vừa dìu Lê Bứa vào bờ. Thị Năm bơi sau hỗ trợ.
Ùng! Ùng! Ùng! Ba phát đạn đồng loạt bắn tới, sóng nước tung trào!
Thị Năm bơi sau không hề hấn gì. Một phát đạn nổ gần Ba Vành hất ông lật ngửa người! Khán Vượt và Lê Bứa bị sóng nước xô mạnh tách rời nhau ra.
May lúc đó đã gần bờ, chỉ còn mươi mét nữa, Khán Vượt cố gắng bơi dìu Lê Bứa vào đến bờ thì kiệt sức, hai ông kịp nắm chặt búi cỏ để khỏi bị chìm, được anh em trên bờ kéo lên.
Ba Vành được Thị Năm bơi sau cứu kịp, cô bình tĩnh dìu thủ lĩnh vào bờ. Sức ép của đạn thần công nổ gần khiến Ba Vành khoẻ vậy mà phải choáng ngất, ông lơ mơ không mở được mắt, tay chân xuôi xị.
Ba Vành to nặng, bất động, khiến Thị Năm không bơi dìu nổi. Mỗi khi Ba Vành chìm xuống, Năm hít mạnh hơi lặn xuống đẩy ông lên, được vài lần thì Năm cũng đuối, cô vừa khóc vừa vẫy tay cầu cứu…
Hai nghĩa quân trên bờ trông thấy vội nhảy xuống bơi ra cứu, bất chấp những phát đạn thần công của quân triều đình đang thi nhau bắn đuổi.
Nhờ hai nghĩa quân phụ giúp, Thị Năm đưa được Ba Vành lên bờ thì cô cũng đã mệt rũ người.
Năm nằm dài trên cỏ ướt và thở nhẹ, tai còn nghe tiếng đạn thần công ì ùng, không còn nổ dồn dập mà rải rác xa dần… Năm tạm yên tâm, nghĩ thuyền quân triều đình bị cháy nhiều, chắc số còn lại đang rút ra cửa sông, chúng bắn vu vơ đáp trả nghĩa quân ở hai bên bờ… Vậy là thủ lĩnh của mình thoát rồi…
Năm quên hiểm nguy bản thân mà chỉ lo cho Ba Vành, ông đang bị thương ở vai, mất nhiều máu, rồi bị đạn bắn ngất… đang nằm cạnh mình đây… chỉ cách nửa sải tay…
Nghĩ đến đây Năm thoáng đỏ mặt, cô ngồi dậy vuốt lại mái tóc dài sũng nước, thấy chú Khán Vượt đang săm soi ngồi gần thủ lĩnh Ba Vành, ông nghiêng tai gần mũi thủ lĩnh lắng nghe hơi thở…
Giờ Năm mới có dịp nhìn rõ thủ lĩnh mình ở khoảng cách gần, lúc nguy cấp vội quá cô chỉ lo cứu ông. Râu tóc Ba Vành rậm rạp đen kịt, sóng mũi nhô lên cao dầy, vài sợi râu mũi quăn quăn thò ra hơi động đậy, ông tướng vai hùm lưng gấu này vẫn còn ngất lịm, hay đang ngủ ngon? Mãnh hổ lúc ngủ trông hiền ngoan đấy chứ! – Năm hóm hỉnh nghĩ: Có dịp… nếu được thủ lĩnh đồng ý, mình sẽ cắt tóc cạo râu cho ông, ai lại để râu ria xồm xoàm như thế kia!
Năm bồi hồi nhớ lại cảm giác mình cách đây không lâu… Lần đầu tiên cô ôm chặt một người đàn ông, người đó lại là thủ lĩnh lừng danh nữa chứ! Người mà từ lâu cô mến phục.
Chao ơi! Dưới nước mà thủ lĩnh còn nặng thế, thì khi cô kéo ông lên bờ, dẫu có hai bạn nghĩa quân phụ giúp, thân hình cao lớn của ông đổ ập vào cô nặng chịch, khiến cô không gượng nổi! Cô phải ôm chặt ông, hai người cùng ngã xuống cỏ…
Lúc đó cô chẳng kịp suy nghĩ hay xấu hổ, mà có gì phải xấu hổ? Thủ lĩnh đang ngất lịm, hai bạn nghĩa quân bận lo cứu giúp, có để ý gì đâu!
Lúc Ba Vành ngã đè lên người cô, cô có thể đẩy hất ông ra, nhưng cô để yên, muốn kéo dài giây phút được ôm ông, được lấy thân mình làm đệm cho thủ lĩnh khỏi ngã đau, để bầu ngực mềm ấm của cô sưởi ấm ngực ông, để trái tim cô được đập gần trái tim lớn của ông.
Năm nhìn quanh, vuốt nhanh áo ướt quanh vồng ngực mình, nhựa sống căng tràn.
Đến bây giờ, Năm bồi hồi nghĩ lại những giây phút ấy, trái tim cô vẫn dồn dập đập.
Giờ có chú Khán Vượt ở đây, Năm chỉ dám nhìn lướt qua thủ lĩnh Ba Vành, cô nói với chú:
– Chú ở đây nhé? Con chạy đi tìm cái khăn… để chú lau khô cho thủ lĩnh.
Khán Vượt gật:
– Ừ. Nhanh nhé, con về phụ giúp chú lau rửa băng bó vết thương cho ông. Lo quá! Chẳng biết đạn nổ… có ảnh hưởng gì không?
Năm gấp rút chạy đi, chỉ loáng sau cô về thì thấy Ba Vành đã ngồi dậy, đang nói chuyện với chú Khán Vượt.
Năm khép nép ngồi sau chú Vượt, len lén nhìn Vành và lắng nghe.
– Thủ lĩnh cởi áo ra để tôi xem vết thương?
– Tôi bị thương à?
– Thủ lĩnh bị tên vào bả vai.
– À à… nhớ rồi!
– Thủ lĩnh còn bị đạn thần công bắn gần, choáng ngất đi đấy!
– Vậy sao? Tôi chẳng biết gì cả! Đạn bắn chỗ nào?
– Giữa sông, lúc thủ lĩnh bơi ra cứu Lê Bứa đấy!
– Lê Bứa có bị sao không?
– Bị tên bắn vào lưng, nặng hơn thủ lĩnh. Tôi đã cho người võng vào làng chăm sóc.
– Chốc nữa ông dẫn tôi đến thăm Lê Bứa nhé?
– Thủ lĩnh nghỉ ngơi cho khoẻ đã. Giờ ông thấy trong người thế nào?
– Tôi khoẻ!… Chỉ thấy đau ê sau vai… Muốn giơ tay lên mà không nổi?
– Vậy mà lúc nãy thủ lĩnh bơi ra sông cứu được Lê Bứa đấy. Tôi nghĩ ông chỉ bị nhẹ, giờ xem vết thương mới thấy mũi tên vào sâu thế này.
– Sâu lắm à?
– Mũi tên chạm đến xương mới dừng lại. Giờ thủ lĩnh chịu khó nhịn đau, để tôi lau rửa bôi thuốc dấu.
– Cảm ơn ông.
Khán Vượt quay ra Năm phía sau ông:
– Năm, mày giúp chú một tay, mở vết thương ra để chú rắc thuốc vào…
Năm “dạ’ nhỏ rồi nhanh chóng làm, cô từng quen việc chăm sóc vết thương cho nghĩa quân.
Ba Vành khẽ quay lại hỏi Khán Vượt:
– Cháu gái ông đấy à?
Khán Vượt gật đầu:
– Cháu ở với tôi từ nhỏ, sau khi cha nó mất.
Ba Vành nhăn mặt, gật gù. Khán Vượt kể thêm:
– Con cháu này thích học võ, nó theo tôi, bơi lặn cừ lắm.
Anh nghĩa quân ngồi bên kể thêm:
– Cô Năm bơi ra cứu thủ lĩnh đấy! Thủ lĩnh nặng quá! Hai đứa tôi phải bơi ra phụ với cô Năm mới kéo được ông vào bờ.
Ba Vành cười:
– Cảm ơn các anh… và cô Năm. Lúc ấy tôi nào biết gì nữa?! Thế tôi ngất đi có lâu không?
– Phải gần hai giờ…
– Thế cơ à? Vậy là tôi ngất… rồi ngủ luôn đấy. Ngủ được một giấc tôi khoẻ ngay.
Thị Năm này lạ thật? Nàng ít nói giống ta. Khi ta hỏi gì đó, nàng chỉ mỉm cười. Thật ra ta kiếm cớ hỏi vu vơ… Sáng sáng ta mong chờ nàng đến chăm sóc vết thương cho ta…
Qua ngày thứ ba, ta hỏi vết thương còn sâu không Năm? Nàng không trả lời. Thì ta tự trả lời: Vết thương còn sâu à? Càng tốt! Năm còn phải đến nhiều lần nữa – Ta nửa đùa nửa thật, rồi bất chợt quay nhìn nàng, nàng bối rối cúi đầu, mỉm cười e thẹn.
Chiều chiều Năm theo chú Khán Vượt đến thăm ta. Nàng nấp sau lưng chú len lén nhìn ta. Ta thấy chứ, ta biết chứ, mà giả như không biết. Ta nói chuyện với chú Khán Vượt cũng để nàng nghe. Đôi mắt to đen của nàng long lanh, hàng mi dài chơm chớp, ta liên tưởng đến đôi mắt mèo tròn xoe tinh anh, giả bộ lim dim rình bắt chuột… Hà hà! Nàng không vồ cắn ta đâu.
Lúc nàng mỉm cười, ta lại thấy đôi mắt nàng như mắt chim phượng có đuôi dài… Mắt đẹp ướt đa tình lắm đây!…
Đến ngày thứ tư ta hỏi: Vết thương còn sâu không Năm? Nàng cũng không trả lời. Ta bất chợt quay lại để được nhìn nàng thật gần, khiến nàng giật mình, lính quýnh động mạnh móng tay, làm vết thương đang ăn da non của ta bật ra, chắc ứa máu?… Bởi ta thấy đôi mắt mèo tròn vo hoảng hốt, đôi mắt phượng mọng nước lo lắng hoang mang…
Ta định cầm tay nàng nhưng chưa dám… Ta hỏi: Em khóc à? Sao em khóc?
Nàng không trả lời mà hỏi lại: Thủ lĩnh có đau không? Em xin lỗi!…
Thương quá! Ta muốn ôm nàng, muốn vuốt tóc nàng, mà vẫn chưa dám.
Lạ thật! sao ta lại lúng túng, lẫn lộn trước nàng mèo nhỏ đáng yêu này? Ta nói vội: Ồ không sao đâu Năm! Không sao đâu em…
Nàng cúi đầu mỉm cười, nói nhỏ: Em sẽ cắt móng tay, không để dài nữa đâu.
Ta bật cười lớn. Đến lượt nàng lúng túng, nàng chớp mắt nhìn ta rồi bẻn lẻn cúi đầu.
Cô thôn nữ làng quê khoẻ mạnh này cao lớn đấy, nhưng cũng chỉ đứng dưới cằm ta thôi. Ước gì cô mèo nhỏ lặng lẽ nhu mì này sóng bước bên ta, cựa đầu vào vai ta nũng nịu. Ta sẽ như con hổ dũng mãnh bảo vệ nàng suốt đời.
Đến ngày thứ sáu, khi Thị Năm đến thăm nom vết thương cho Ba Vành, ông quyết định hỏi nàng, nói nhanh:
– Năm à, mai ta phải về Trà Lũ có việc. Cảm ơn nàng đã tận tình săn sóc.
Năm run run ngước lên, đôi mắt đen mở to long lanh:
– Vết thương thủ lĩnh chưa lành hẳn mà?
Ba Vành gật đầu:
– Nên ta muốn được nàng theo chăm sóc. Nàng nghĩ sao? Cho ta biết, để ta còn nói với chú Khán Vượt.
Thị Năm bẻn lẻn cúi đầu, lí nhí:
– Dạ… để em về… hỏi thêm mẹ…
Ngay chiều hôm ấy, Khán Vượt đến nói với Ba Vành rằng cháu ông xin được theo chăm sóc thủ lĩnh.
Khi Ba Vành và Thị Năm về đến Trà Lũ, Hai Đáng và Thị Minh đến thăm, thấy vết thương sau vai Ba Vành sắp lành, hai vợ chồng đều mừng.
Hôm sau hai vợ chồng lại đến. Vũ Thị Minh nói với Ba Vành:
– Thủ lĩnh thấy em Năm tôi thế nào? Tôi muốn cho nó theo ông để nâng khăn sửa túi.
Ba Vành gật mạnh đầu:
– Bà chị tiến cử thì nhất rồi, tôi xin nghe.
Hai Đáng mỉm cười, nói vào:
– Thủ lĩnh đã ba nhăm tuổi, đáng ra phải lập gia đình lâu rồi. Để tôi bàn với quân sư Chiêu Liễn chọn ngày lành tháng tốt.
Quân sư Chiêu Liễn nghe Hai Đáng kể lại chuyện Ba Vành thoát nạn, lại gặp duyên lành, ông rất mừng.
Nhưng sau đó quân sư hơi lo, ông trầm tư suy nghĩ: Ba Vành nặng tình cảm hơn là lý trí… Khác với Lưu Bang bên Tàu ngày xưa… Khi Hạng Vũ đem mẹ và con trai Lưu Bang ra doạ giết, Lưu Bang không quan tâm, từ đó mới làm nên đại sự, trở thành Hán Cao Tổ. Còn Ba Vành của ta giàu tình cảm, bị thương vẫn xả thân cứu người, đó là nghĩa khí của bậc đại anh hùng. Ta chỉ sợ sau này nếu lại lâm vào tình thế hiểm nguy, Ba Vành liều lĩnh hành động… nhỡ không thoát được thì sao?…
Chiêu Liễn âm thầm trăn trở: Việc này hơi khó nói… Mà dẫu ta có nói thì Ba Vành cũng không nghe đâu! – Ông thở dài – Thôi thì… sống chết có số, ai mà biết được? Ta cũng vậy, ta hết sức cố gắng, thành bại sống chết là sự thường, theo mệnh trời mà thôi!
PHAN ĐỨC NAM
(Còn tiếp)


