Ba tôi – Hồi ký của Trần Thiên Hương

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 22:02

 Đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…

Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng! Thành phố Sài Gòn đã hoàn toàn giải phóng! Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã tung bay trên nóc phủ Tổng thống ngụy quyền…!”

Nghe xong bản tin từ Đài Tiếng nói Việt Nam, ba tôi nước mắt giàn giụa thốt lên:

– Giải phóng rồi! Miền Nam giải phóng rồi! Sắp về được quê hương rồi các con ơi!

Tôi vẫn nhớ như in, sáng hôm đó, ngày 30 tháng Tư năm 1975, ba tôi còn mang cuốc ra vườn để vun mấy vồng khoai, ông mang theo cả cái máy Ra đi ô để nghe tin tức. Đến trưa, Đài Tiếng Nói Việt Nam vừa phát đi bản tin chiến thắng thì ba liền vứt cuốc ngoài vườn chạy vô nhà báo tin mừng, đúng là mừng rơi nước mắt!

Mỗi năm đến ngày 30 tháng Tư, hình ảnh ấy cứ hiển hiện trong tâm trí và tôi vẫn thấy rưng rưng!

***

Năm 13 tuổi ba tôi đã đi giao liên cho bộ đội, 16 tuổi đã lên đường đi Kháng chiến. Hình ảnh trong bài “Nhớ con sông Quê Hương” của nhà thơ Tế Hanh như thế nào thì thời tuổi trẻ của ba tôi cũng y như vậy:

…“Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả

Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông

Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến”…

Quê Nội tôi là một làng ven sông Thu Bồn, làng rất đẹp và cũng có cái tên rất mỹ miều: làng Tân Mỹ. Tuổi thơ của Ba tôi gắn bó với con sông quê, những buổi chiều dầm mình trong dòng nước mát, những buổi trưa hè treo võng nằm lim dim trong những rặng tre, rồi câu cá câu tôm với bạn bè…

Chiến tranh lại bùng nổ 1946, làng không còn bình yên như xưa. Dòng sông Thu Bồn cũng chìm trong khói lửa. Những chiều hoàng hôn nhìn xuống dòng nước chỉ thấy một màu đỏ quạch thê lương. Người làng, trong đó có gia đình Nội tôi phải đi sơ tán. Ba tôi, sau khi đưa được ông bà Nội và các cô chú tôi đến nơi sơ tán an toàn thì ông cũng xin đi bộ đội.

Ngày ra đi, cây cầu Bà Rén đã bị công binh ta nổ mìn đánh sập, ba tôi một mình một chiếc thuyền con chèo sang sông, qua bờ bên kia ông ngoái nhìn quê hương mà lòng đau xót, ông viết bài thơ “Sóng dậy lòng ta” để từ biệt quê nhà:

“Trời xanh mây trắng lững lờ trôi

Một chiếc thuyền con lộng giữa khơi

Ngoảnh nhìn quê hương đầy khói lửa

Lòng ta dậy sóng Thu giang ơi!”

(20.4.1947)

Nhờ có học vấn và biết tiếng Pháp, lại thông minh lanh lợi, ba tôi được cử đi học trường huấn luyện của Quân khu V tại Quảng Ngãi, trở  thành bộ đội trinh sát của Quân Khu. Từ đó ông cùng đoàn quân đi khắp các chiến trường miền Trung – Tây Nguyên. Những trận đánh đã đi vào Lịch sử như trận đèo Mang Yang, An Khê… cũng từng in dấu chân của ba tôi. Đi đến đâu ba tôi cũng có duyên lập thành tích, nên mỗi trận đánh ông thường lập chiến công và sau này được đề nghị tặng thưởng rất nhiều Huân Chương.

 Ba tôi năm 1966 trên nông trường ở Phú Thọ

Ba tôi nói dẫu có nhiều chiến công nhưng trận đánh khiến ông nhớ mãi vẫn là trận Bồ Bồ, mà sau này Lịch sử ghi là “trận Bồ Bồ- Điện Biên Phủ trên chiến trường Quảng Nam”, trong kháng chiến chống Pháp năm 1954. Có lẽ một phần vì ông được cầm súng chiến đấu trên mảnh đất Quảng Nam quê nhà.

Tỉnh Đội Quảng Nam đã huy động lực lượng từ Bộ Binh, Hỏa công, Đặc công và cả du kích địa phương để phối hợp tiêu diệt địch. Ba tôi là Đại Đội trưởng một đơn vị Bộ Binh của Quân Khu V tăng cường cho Quảng Nam tác chiến . Đúng 0h ngày 20 tháng 7, sau hiệu lệnh của Bộ chỉ huy bằng hai phát pháo xanh, lần lượt các mũi tiến công của quân ta bắt đầu nổ súng.

Trận đánh diễn ra căng thẳng suốt gần 3 giờ đồng hồ. Đến gần sáng thì quân ta thắng lợi. Bắt sống được nhiều tù binh, trong số đó có cả viên đại tá, chỉ huy “Cuộc hành quân Con Báo”. Ba tôi đã ghi lại cảm tưởng về trận đánh đó trong hồi ký của mình:

“Ba giờ khói lửa mịt mù

Quân ta làm chủ cả khu Bồ Bồ

Hàng trăm tên giặc phất cờ

Xin hạ vũ khí chúng giơ tay hàng

 Vậy là địch cả trung đoàn

Ta đánh tan xác không còn một tên

Bên ta cũng bị sát thương

Gần trăm đồng chí lên đường đi xa

Nỗi đau này quá xót xa

Nhưng ta được cất tiếng ca vang lừng

Quảng Nam quê Mẹ anh hùng

Bồ Bồ chiến tích vẫn cùng các anh

Ghi tên vào tấm bia xanh

Anh hùng liệt sĩ lưu danh muôn đời!”

Với Ba tôi, những ngày chiến đấu ở chiến trường Khu V là những tháng năm tuổi trẻ đẹp đẽ và oanh liệt, góp phần cùng đồng đội viết nên bản anh hùng ca chiến thắng, điểm tô thêm trang sử hào hùng cho đất nước, quê hương.

Ông ra Bắc theo hiệp định Geneve, hẹn hai năm sau trở về…

Theo Hiệp định đã ký kết, nước Việt Nam tạm thời chia cắt thành hai miền qua vĩ tuyến 17, và phải thống nhất trước tháng 7 năm 1956 bằng tổng tuyển cử “tự do và dân chủ”.

Ngày ra đi biết bao bịn rịn và hứa hẹn, nhưng sau hai năm vẫn không thể thực hiện ước muốn trở về nên ba tôi đau buồn  lắm. Lúc đó ông đã có vợ và chị Hai tôi mới chào đời đành gửi lại cho nhà bên Ngoại. Mối duyên này được kết nên từ những ngày Ba đi chiến đấu ở chiến trường Quảng Ngãi, sau mới chỉ thông báo cho Nội tôi biết mà chưa kịp làm đám cưới. Ba tôi đi rồi, mẹ Cả tôi một mình nuôi con. Khi Mỹ – Diệm lùng sục truy tìm những người Cách mạng kháng chiến thì chúng đã bắt bà tra tấn dã man, nên khi được thả về thì bà đã bị thương nặng và mất khả năng nghe. Khi chia tay, ba tôi đã viết bài thơ:

“ANH MONG EM HIỂU CHO ANH!

 

– Anh ơi,

Hòa bình lập lại rồi

 Sao anh còn đi nữa?

 Con chúng mình còn nhỏ

 Nó chưa rõ mặt cha

 Anh vẫn cứ đi xa

 Làm sao em chịu nổi?

 

– Em ơi, anh xin lỗi

Mong em hiểu cho anh

 Hòa bình tuy lập lại

 Nhưng chưa thật yên lành

Anh phải còn đi nữa

Nợ nước vẫn chưa thành

 Miền Nam còn máu đổ

Chưa tắt lửa chiến tranh

 

– Em ơi

 Hạnh phúc của toàn dân

 Bị quân thù xâm lấn

Thì gia đình êm ấm

Cũng không giữ được nào

 

Em ơi, thông suốt đuôi đầu

Anh đi tập kết hai năm sau trở về

Mong em ở lại quê nhà

Nuôi con, chăm sóc mẹ già giùm anh!

Hai năm, chấm dứt chiến tranh

Không còn Mỹ ngụy thì anh sẽ về!”

     

(Quảng Ngãi, tháng 9.1954)

Ba mẹ tôi hồi mới cưới năm 1966

Mỗi ngày ở miền Bắc đều là nỗi ngóng trông tin tức miền Nam. Chiến tranh ngày càng khốc liệt, thanh niên miền Bắc không ngừng lên đường vào Nam chiến đấu. Nhiều chiến sĩ từ miền Nam như Ba tôi ra Bắc đã được gọi tên trở lại chiến trường. Ba tôi cũng chờ đợi nhưng vẫn không đến lượt. Ông đã làm đơn gửi lên cấp trên xin được trở về miền Nam chiến đấu, câu trả lời là hãy đợi thêm thời gian nữa! Hồ Chủ tịch trong “lời kêu gọi” (1966) đã nói “ chiến tranh còn có thể kéo dài 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa…” càng làm cho lòng ba tôi thắt lại. Cũng giống như Tế Hanh đã mô tả:

Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc

Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc

Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng ‘miền Nam’”

Chờ đợi mãi vẫn không được gọi tên trở về Nam chiến đấu, Ba tôi và nhiều người khác đã chuyển ngành sang làm kinh tế, xây dựng miền Bắc XHCN. Lên Phú Thọ xây dựng Nông trường trồng Chè. Nơi đây, ba mẹ tôi đã gặp gỡ nhau. Mẹ tôi học xong Trung cấp Kế toán mà không xin được việc do là “con địa chủ”. Mẹ xinh đẹp, có nhiều chàng trai yêu mến nhưng họ đều không bước qua được định kiến khắt khe của xã hội bấy giờ, họ sợ dính dáng đến gia đình địa chủ, sẽ không thể có đường tiến thân.
Ba tôi tạm quên mối tình với người vợ miền Nam, ba mẹ tôi yêu nhau và đi đến hôn nhân. Sau khi cưới, ba mẹ sống cùng ông bà Ngoại tôi, và ba tôi chẳng khó khăn gì để xin cho mẹ tôi làm kế toán ở Công ty Thương nghiệp của huyện.

Tôi sinh ra trên quê Ngoại, tuy còn nhỏ nhưng tôi vẫn cảm nhận được nỗi lòng của ba tôi đối với quê hương. Một hôm đã rất khuya mà vẫn thấy Ba chưa ngủ, ông ra hiên ngồi đốt thuốc (mặc dù ba tôi rất hiếm khi hút thuốc, sau ngày Thống nhất ông bỏ hẳn), tôi hỏi ông:

– Sao Ba vẫn chưa đi ngủ hả ba?

Ông ôm tôi vào lòng và nói:

– Còn chiến tranh, không biết bao giờ mới về được quê nhà con ạ!
Tôi nghe trong giọng nói của ông hình như quyện trong nước mắt.

Năm 1972. Mỹ cho B52 ném bom miền Bắc, hằng ngày chúng tôi phải xuống hầm trú ẩn. Máy bay lượn vòng ở trên đầu, tiếng gầm rú nghe đinh tai nhức óc. Ba tôi luôn đứng ở của hầm quan sát, có lần tôi cũng lén chui ra cửa hầm để … xem, thấy trên cao máy bay thả bom ở những vùng lân cận, những quả bom từ trong bụng máy bay rơi xuống, chẳng khác gì con cá mập đang đẻ con. Sau mỗi lần oanh tạc, nhìn lên bầu trời thấy trắng xóa những sợi dây bạc do Mỹ thả, sau này tôi mới hiểu những sợi dây đó có tác dụng làm nhiễu sóng ra đa, để quân ta không xác định được vị trí máy bay. Quê Ngoại tôi may mắn chưa lần nào bị bom rơi, do vậy gia đình chúng tôi vẫn được bình an vô sự.

Ba tôi những năm cuối đời, sống nhàn nhã an vui bên con cháu.

Mỹ chấm dứt ném bom, năm 1973 Hiệp định Pari được kí kết, nhưng đường về quê mẹ vẫn còn mờ mịt. Để nguôi ngoai nỗi nhớ quê, ba tôi đi thăm những người đồng đội cũ còn ở lại trên miền Bắc, ôn lại những kỉ niệm chiến trường xưa. Gặp gỡ những người anh em trước đây chưa được gặp như nhà thơ Tế Hanh, anh hùng Núp… Họ là những người cùng quê hương miền Trung – Tây Nguyên nên cũng thành gần gũi.

Ba tôi được mời tham dự nhiều đại hội vinh danh những người có công trong hai cuộc Kháng chiến, được Nhà nước trao tặng những tấm Huân chương, gặp gỡ những nhà lãnh đạo của đất nước. Có lần Ba tôi được đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng trao tặng bằng khen, và với danh nghĩa cá nhân, bác Đồng tặng riêng cho ba tôi khẩu súng lục làm kỷ niệm…

Ba tôi còn đi dạy bình dân học vụ, giúp xóa mù chữ cho nhân dân trong vùng và anh em bộ đội chưa biết chữ.

Ông làm thơ, rất nhiều tập thơ về nỗi nhớ miền Nam. Sau này tôi có khoe với một người bạn của tôi về những tập thơ ấy. Chưa biết nội dung thế nào, anh ấy nói với tôi:

– Sao Ba em lại lấy bút danh như con gái thế?

Tôi cười:

– Dạ, bút danh “THU GIANG” là cái tên Ba em đặt để “nhớ con sông quê hương” – dòng sông Thu Bồn đó anh ạ!

Suốt những năm tháng sống trên miền Bắc, ba tôi chỉ đau đáu một nỗi niềm là được trở về quê hương, tắm trên dòng sông Thu Bồn như những ngày xưa ấy.

Và rồi cái ngày 30 tháng Tư năm 1975 cũng đến! Niềm vui mừng, sung sướng vỡ òa. Nụ cười và nước mắt chan hòa. Những ngày sau đó có lẽ là những ngày hạnh phúc nhất của ba tôi, kể từ cái hôm lên tàu từ bến cảng Quy Nhơn ra miền Bắc!

Lúc đó có quy định, những ai có thư của người thân từ miền Nam gửi ra mới được trở về. Rất may cho ba tôi, chú tôi ở trong Nam gửi thư ra nên chỉ sau mấy tháng Ba tôi đã nhanh chóng được về quê, kết thúc những tháng năm mòn mỏi đợi chờ.

Ba dẫn em trai kế tôi về quê ngay sau đó, mẹ và mấy chị em còn lại đợi ổn định nơi cư trú về sau.

Ba trở về tìm lại người thân, là những anh em ruột của ông, ông bà Nội tôi đã mất, ba tôi đau lòng và ân hận không được nhìn thấy bà tôi lúc lâm chung. Rồi ông vào Quảng Ngãi đón mẹ cả và chị Hai tôi, gia đình đoàn viên trong niềm vui chung của cả nước.

Ổn định gia đình, ba tôi lại tiếp tục lên đường tìm đồng đội, trở lại chiến trường xưa, hỏi thăm những người còn người mất…Cứ như thế, ông  đi hết miền Trung rồi vào miền Nam, và dừng chân ở Sài Gòn. Những đồng đội cũ năm xưa còn trong quân ngũ nay đã mang Quân hàm Đại tá, thiếu Tướng…họ gặp lại nhau trong niềm hân hoan của người chiến thắng!

Các bác ấy bảo ba tôi hãy ở lại Sài Gòn, nhà nước cấp cho căn nhà 4 tầng trên đường Cộng Hòa, của một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa vừa đưa gia đình lên tàu ra nước ngoài.  Nhưng ba tôi chỉ lắc đầu…

Ông nói:

– 21 năm qua chỉ mong có ngày được trở về quê hương, nay còn sống mà gặp lại nhau đây là diễm phúc lắm rồi. Các anh cứ ở lại làm việc, tôi phải về quê còn bao việc phải làm.

Ba tôi chào từ biệt Sài Gòn, trở về quê hương.

Nhà văn Trần Thiên Hương ở Đà Nẵng

Ba tôi nặng lòng với quê hương không chỉ lúc xa quê, trong ông lúc nào cũng có ước muốn làm cho quê hương giàu đẹp. Những năm còn khó khăn ông đã tự bỏ tiền ra đắp đường, rồi cải tạo cái hồ nước chỗ cầu Trị Yên, trồng cây cho cảnh đẹp. Khi đã gần 90 tuổi nhưng ông vẫn khỏe mạnh, sáng nào cũng ra chỗ hồ nước để dọn cỏ và trồng cây ven hồ. Ông nói với tôi:

– Nếu trời cho ba trúng số 100 tỉ là Ba ủng hộ 50 tỉ xây Bệnh viện và đào tạo Bác sĩ để chữa bệnh cho nhân dân, 20 tỉ để cải tạo và xây dựng chỗ cầu Trị Yên thành một khu sinh thái, 10 tỉ để cho làng xây dựng công trình sinh hoạt công cộng…

Nghe ông nói , tôi cười hỏi đùa:

– Thế Ba không để tiền lo cho ba à?

– Ba đã có nhà nước lo rồi, khi ba chết cũng sẽ có người đến lấy xác rồi còn lo chi nữa.

Tôi vẫn đùa thêm:

– Thế Ba có cho con cháu đồng nào không?

– Con cháu ba cho chút ít làm quà thôi, còn phải tự làm lấy. Nếu có sẵn tiền mà tiêu thì sẽ không biết quý đồng tiền, không có ý chí phấn đấu vươn lên.

Ba tôi đã không đạt được ước nguyện cuối cùng này.

***

Vào một ngày đầu Xuân 2021, ba tôi đã từ biệt cõi trần.

Theo di nguyện của ba – khi ông 70 tuổi, ông đã vô Sài Gòn làm giấy tự nguyện hiến xác –  gia đình tôi đã hiến thi hài của ông cho Y học. Trường Đại học Y dược Huế đã tiếp nhận thi hài để Sinh viên Y khoa nghiên cứu.

Đại diện của trường, ông Lê Bá Nhật Bình đã bày tỏ trước linh cữu của ba cùng toàn thể gia đình:  “… Đây là một nghĩa cử cao đẹp. Những người hiến xác cho Y học là những người thầy thầm lặng. Muốn có đội ngũ Bác sĩ giỏi cần có những người như ông…”

Ba tôi đã cống hiến cả cuộc đời cho quê hương đất nước, khi trái tim ngừng đập ông vẫn còn tiếp tục hy sinh cho những thế hệ mai sau. Trong tim tôi và những người thân trong gia đình, ba là một con người vĩ đại.

Là con gái của ba, con thực sự cảm động và tự hào, mãi mãi trong tim con là hình ảnh của ba thật dũng cảm kiên cường và giàu lòng nhân hậu.

Ba đã sống một cuộc đời đầy ý nghĩa, và đã ra đi khi bước sang tuổi 90, rất nhẹ nhàng an lạc!

***

Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ rồi, bây giờ nhìn lại tôi mới thấy ba tôi, gia đình tôi thật may mắn. Ba tôi dù cầm súng chiến đấu nhưng vẫn không phải hy sinh xương máu. Những năm hai miền chia cắt thì ba tôi lại ở Hậu phương, tránh được cảnh huynh đệ tương tàn. Bởi ba tôi là người lính, nếu còn ở miền Nam thì thế nào cũng phải cầm súng bắn vào anh em  mình, những người ở bên kia chiến tuyến, họ bất đắc dĩ phải cầm súng vì không còn con đường nào khác.

Chiến tranh thật tàn khốc, và súng đạn thì vô tri…

TRẦN THIÊN HƯƠNG

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com