Chuyện xứ Đồng Hóp – Truyện thiếu nhi của Xuân Ba – Kỳ 2

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 22:05

Gần như không ngày nào lũ con trai, con gái thau tháu của Làng Lon chúng tôi nếu không bận đi học lại không nhảo lên Đồng Hóp. Mỗi bận nhảo nhoáng nhoàng như thế, cái giỏ tre con con mỗi đứa đã óc ách ốc bươu lẫn cua núi. Đội quân thường trực kiếm thức ăn cho gần 2 chục hộ của Làng Lon ngày nào cũng tầm nã càn quét khắp Đồng Hóp mà lạ sao, cứ vắng ốc bươu, vắng cua là thế nhưng chỉ một chốc thôi, nhất là ngày mai chúng lại “ hồi” lại?

Nhà văn, nhà báo Xuân Ba tên thật là Trịnh Huyên.

 

 

Tứm lươn

 

Với xứ khác vùng khác, thì thường gọi là thung, thung lũng… Nhưng địa hình của cánh đồng bị tóp, hóp lại giữa hai eo núi mà thành, vùng tôi gọi là Đồng Hóp!

Phía trước là cánh đồng chiêm mênh mông nên Đồng Hóp trông cũng đỡ tẻ. Những tràn ruộng bậc thang xếp lớp nhau nối tận chân núi Lăng. Có tên núi Lăng bởi trên núi có mộ các vị tiên liệt Chúa Trịnh. Trong đó có vị mà chúa Tiên khởi Trịnh Kiểm kêu bằng cụ, kỵ. Núi Lăng thuở ấy còn nhiều cây cối rậm rì. Một con suối có mạch nguồn từ đỉnh Lăng có tên là Ba Khe. Ba Khe là ba con lạch hợp nên suối. Mùa mưa  tháng sáu đến tháng 8 suối ào ạt. Nhưng từ tháng 9 trở đi chỉ ri rỉ và bặt cạn trơ đấy đến tận mùa mưa năm sau.

Bắt đầu mùa mưa cữ tháng sáu âm lịch, dòng Ba Khe nước đổ rào rào cũng là khi khung cảnh Đồng Hóp sinh sắc hẳn lên. Những thửa ruộng bậc thang đã cày vỡ đợi nước để cấy ngậm nước mưa nước suối Ba Khe trong vắt. Những khoảng bờ, thứ tự nhiên thứ đắp hờ có vẻ khó giữ được nước nhưng nào có hề chi. Nước trời. Nước từ núi Lăng cung đốn suốt cả mùa mưa.

Có lẽ chỉ có thổ ngơi Đồng Hóp mới có thứ môi sinh  hơi bị lạ? Ấy là chỗ những khoảng ruộng liền bờ nối nhau tạo nên kiểu bậc thang, nhiều nhất là buổi sáng và chiều muộn bao giờ cũng có những túm ốc bươu quấn nhau tầm 3 đến 5 con. Ốc bươu, không phải ốc nhồi. Đó là thứ ốc vỏ màu vàng sành, miệng đầy khít nhỉnh bằng đúng một quả mận. Nói đến ốc bươu xin ai chớ có liên tưởng đến cái giống ốc bươu vàng dở hơi một thời nhan nhản! Ốc bươu Đồng Hóp, thuở môi trường sinh thái lành sạch trông cũng hao hao như thứ ốc bươu Hồ Tây có bán ở mấy hàng ăn Phủ Tây Hồ nhưng chất lượng ốc bươu Đồng Hóp thì… hẵng từ từ sẽ nói ở phần sau!

Tôi đồ rằng từ dưới lòng đất Đồng Hóp kia, cái thứ ốc mỗi sáng nó cứ trồi lên như thế hình như  từ một“ huyệt” ốc huyền bí nào đó? Mà huyệt ấy phải từ ruột núi Lăng ăn thông xuống? Chả biết được! Làm chi có cái sự đẻ đái sinh sản mà lại mau chóng nội chỉ một đêm, một buổi lại cứ trồi lên như thế?

Ngó túm ốc quấn nhau trong làn nước nông trong văn vắt. Ngay cạnh lại có thứ lon xon bon bon cái giống cua đồng nho nhỏ, mai đỏ như son hoặc màu trắng ngà hơi ngả chút sắc xanh nom rất ngộ. Chợt thấy cảnh này nó hư ảo như nào chứ không thực? Gọi là cua đồng cũng chả biết có chuẩn? Giống ấy là cua núi, thứ hoa đất thổ ngơi riêng xứ Đồng Hóp kề với ngọn núi Lăng linh thiêng sinh ra?

Gần như không ngày nào lũ con trai, con gái thau tháu của Làng Lon chúng tôi nếu không bận đi học lại không nhảo lên Đồng Hóp. Mỗi bận nhảo nhoáng nhoàng như thế, cái giỏ tre con con mỗi đứa đã óc ách ốc bươu lẫn cua núi. Đội quân thường trực kiếm thức ăn cho gần 2 chục hộ của Làng Lon ngày nào cũng tầm nã càn quét khắp Đồng Hóp mà lạ sao, cứ vắng ốc bươu, vắng cua là thế nhưng chỉ một chốc thôi, nhất là ngày mai chúng lại “ hồi” lại?

Những ngày xa, thời khó ấy, cơm ăn với muối còn chưa đủ no nói chi đến chuyện thức ăn. Có vẻ không quan trọng lắm nhưng tất tật khoản mằn mặn đưa cơm của các nhà, hầu như đều do bọn trẻ đảm nhận tất. Tôi cam đoan, thuở ấy chất đạm dinh dưỡng cũng từ cái “ kênh” lấm láp ấy và tỏa đi các nhà. Giỏ ốc bươu về đổ ra chỉ áo mấy gáo nước qua quýt vì chúng vốn sinh ra, đã xuất hiện trong môi trường đất, nước sạch rồi mà. Trời thương cung đốn con ốc con cua, cũng sinh từ xứ đất Đồng Hóp cái cây ngành ngạnh! Những cụm ngành ngạnh mọc đầy ven bờ ruộng. Đó là thứ lá hao hao như lá me nhưng cành nhiều gai nhọn. Khẽ khàng khéo léo tách ra. Thứ lá ấy đã đành là chua. Chua, nhưng chua thanh. Khác với những chua loét, chua khẳn, chua khé và chua lòm! Thứ nước canh hỗn hợp nấu lẫn ốc bươu ngành ngạnh ấy húp phát chỉ có tỉnh người. Ngoài ngành ngạnh, nhà nào cầu kỳ  thì nêm vào nồi ốc mấy môi mẻ cũng dậy lên cái mùi vị đậm đà!

Đang nói món canh ốc bươu ngành ngạnh. Chỉ bỏ ào nắm lá ngành ngạnh vào nồi ốc nêm thêm chút muối. Nhoáng cái đã có một nồi canh chua bốc mùi ngào ngạt. Hẵng khoan. Chịu khó nhoàng ra sau nhà tước nắm gai bưởi cái đã. Cái gai bưởi ấn vào thớ thăn mịn của miệng ốc. Rồi rất nhanh, cái khối thơm thảo sần sật ấy như trôi như lọt ngọt qua cuống họng. Thường vài lần thay gai bưởi như thế, những cái bụng háo đói nhất cũng đã lưng lửng. Tầm hai lưng bát cơm độn khoai ghế ngô lua ( lùa) với nước canh ốc cũng tạm lưng lửng những cái bụng háu đói nhất. Nhẽ ra phải là bốn năm cái xét ( lưng) cơm độn thì mới phải nhẽ!

***

Không chỉ đơn giản chu cấp thứ thức mằn mặn để trôi cơm đưa cơm và cái lứa đám con trai 9, 10 tuổi chúng tôi đã biết góp phần kiếm sống. Bây giờ cái từ “ tứm lươn” quê tôi ít dùng. Tứm ( có thể là từ “tóm” gọi chệch đi chăng?

Tứm lươn chỉ cái việc, cái nghề đi đánh lươn, bắt lươn. Nghề đánh lươn có nhiều nơi dùng những cái ống nứa cưa ngắn. Miệng ống có cái “ ton” hom gắn vào. Vùng tôi thì dùng “ trúm” còn gọi là “ trứm” Trứm, đan bằng tre hình tròn, dài sáu, bảy mươi phân ( cm). Có một thứ phụ kiện đi với” trứm” là cái nõ. Cũng dùng tre đan thành hình ống rộng hơn hai đốt ngón tay. Nõ là thứ đựng mồi giun băm nhỏ để nhử lươn.

Làng tôi có nhiều loại trứm. Thứ tre, thứ đan bằng nứa mua ở chợ Bồng, chợ Bản ( bên kia sông Mã) Trứm đan bằng nứa không đẹp và bền như  tre. Làng tôi có ông cụ Bích rất giỏi nghề đan. Thúng mủng, rổ rá, giần, sàng giậm lừ, đó… ông đan được tất. Mà đan đẹp.

Có chuyện, lần ấy vợ một viên nhà Đoan ( thuế) theo chồng từ tỉnh mò về  ghé qua chợ Bồng. Thấy hàng nan chợ Bồng bày bán thứ bồ đựng thóc, bà vợ đầm nhà Đoan ngạc nhiên hỏi làm sao cái bồ lại tròn xoe thế này? Người đan ngồi vào trong chăng? Ông lão bán hàng bật cười đáp đúng như thế.

Bà vợ đầm nghe vậy càng tò mò tợn. Ông Tây Đoan chiều vợ đòi dẫn lên tận cái nơi có tác giả làm ra tác phẩm ấy. Khi gặp cụ Bích và tận mục sở thị cũng như được cụ giải thích cách đan bồ, đan trứm, đan lờ… thì đám ấy phục quá. Ông cụ Bích càng nổi tiếng khắp vùng cái tài khéo đan lát qua cái sự kiện Tây đến nhà.

Thứ trứm ông cụ Bích đan thì thôi rồi. Vừa nhẹ vừa thoáng. Thoáng là tiêu chí, tiêu chuẩn để thứ mồi giun trong nõ khuếch tán thật xa thật rộng dễ quyễn rũ giống lươn. Loại trứm ông đan dùng có tới chục vụ lươn mà chưa hỏng.

Mùa tứm lươn bắt đầu từ cuối tháng Tư âm lịch. Đại để giời bắt đầu nóng thì thả được trứm. Vụ lươn kéo dài đến giữa tháng 9 ta thì dừng.  Cái giống lươn, giời bắt đầu lành lạnh thì chúng không đi ăn nữa mà thụt ẩn vào mà ( lỗ).

Lũ chúng tôi cái đám thau tháu 9, 10 tuổi được tập hợp trong hội đánh lươn của làng. Buổi sáng, cả bọn mỗi đưa một cái cuốc. Tòn ten cái nồi đất một bên. Tất tả hăm hở vượt cái eo Lon, một sườn núi thâm thấp để sang bãi sông Mã đào giun. Khoảng đất bồi ven sông hồi ấy sao rất sẵn thứ giun loại nhỏ bằng chiếc đũa. Vùng tôi và dân đánh lươn, trứm lươn gọi là trùn bản. Thứ trùn bản nhỏ khác với trùn vạc ( to bằng ngón tay)  giống lươn không khoái lắm!

Chỉ khoảng gần một tiếng đồng hồ, những chiếc nồi đất đã đầy ắp giống trùn bản.

Khoảng bóng nắng ( với nhà nào có sân gạch) chớm 5, 6 hàng gạch ( khổ, cả làng thời khó ấy chả nhà nào có đồng hồ, chắc tầm ba rưỡi, bốn giờ chiều) thì băm trùn nhồi vào nõ. Âm thanh lách cách loang khắp như hiệu lệnh đánh động các thành viên trong hội trứm lươn làng Việt Yên đồng loạt ra quân băm mồi vào mồi nõ. Có đứa còn cẩn thận băm lẫn với lá khoai lá ráy? Để làm chi? Để chú lươn nào nhanh nhẩu chui vào trứm trước đớp thứ mồi giun lẫn lá khoai ngứa mồm tóp tép. Đám lươn ở ngoài thấy hấp dẫn tranh nhau chui vào.

Dân đi trứm (chứm) đứa nào thạo, khỏe thì ba chục cái trứm. Còn thì tầm mươi lăm hai chục. Cánh Đồng Hóp đã thưa lươn vì có con đường đắp cao ngăn cách với đồng chiêm nên cả bọn phải đi xa lên Giếng Rằm, Giếng Sôi… cách làng đến 5 cây số. Khu vực ấy nước đóng quanh năm nên sẵn lươn.

Rải xong trứm thì cũng vừa nhá nhem. Cái giống lươn quả là thính nhạy. Nhiều lần chợt nghĩ để cái trứm vị trí này chưa hợp lắm quay lại chuyển chỗ đã nghe âm thanh rành rạch trong đó bởi có một hai chú lươn đã chui vào rồi!

Mỗi đứa tòn ten cái gậy hồi chiều quảy trứm, vác vai thong thả ngó bộ nhàn tản lắm. Nhưng khối thứ đang đợi. Tốc tả cơm. Những bữa cơm nhập nhoạng trong ánh đèn dầu tù mù. Gắp rau muống luộc sao bữa nay già, dai thế này? Hóa ra mình đương nhai cả một… con đỉa. Chắc con em gái chiều nấu cơm rửa chưa kỹ! Cơm chưa trôi đã  hối hả ngồi học bài. Lắm bữa ngủ quên bên bàn học…

Bây giờ ngồi viết những dòng này chợt thấy thương mình thương đám bạn lẫn… phục mình, phục bạn quá! Là như trên đã nói, cả cái làng Việt Yên nghèo đói không nhà nào sắm nổi cái đồng hồ. Tầm 4 rưỡi 5 giờ đã phải dậy đi lấy trứm. Thời điểm ấy hoàn toàn phụ thuộc vào các bà mẹ hoặc người nhà căn cứ vào các lượt gà gáy hoặc bóng trăng chênh chếch ( nếu vào cữ trăng) thì thức con dậy. Cũng may một đứa dậy thì cả bọn biết đường mà gọi nhau. Có không ít lần ngủ quên sáng bạch cánh cò vừa chạy đi lấy trứm vừa khóc.

Khóc vì sao? Vì nhỡ mất buổi chợ của mẹ. Mỗi buổi trứm như thế tầm được khoảng 2-3 kg lươn. Giờ chợt quên mất giá cả. Nhưng phải tầm gần 3 kg lươn ấy, mẹ đi chợ Bồng, Chợ Bản tiền bán lươn mới mua được 5 bơ gạo. Làng tôi nhiều đứa trẻ phải kiếm gạo cho cả nhà bằng việc trúm lươn như thế! Chao ôi tầm 9, 10,11, 12 tuổi, cái độ đang tuổi ăn tuổi ngủ… Những tất tả thức đêm thức hôm… Hơi bùn đất . Những dầm mưa, giải nắng. Mỗi mùa lươn ngó thằng nào cũng hốc hác rài rạc!

( Sau này tuổi cứng và đứng tầm 5,6 bẩy mươi, có đứa trong chúng tôi, mà nói ai nữa, chính cái thằng tôi đây nhiều đêm còn mơ hốt hoảng vùng dậy giữa giấc vì mơ thấy mình dậy muộn nhỡ mất bữa đi lấy trứm! Ký ức tuổi thơ nhọc nhằn vương vấn đeo bám lẫn ám ảnh dai dẳng vậy đấy!)

Sơn ơi, Ngọc ơi, Vĩnh ơi, Quyền ơi, Phụng ơi… Bây giờ các bạn đã đi xa. Đã nằm lại ở các chiến trường ( khốn khổ, đến tận giờ không có ai tìm thấy hài cốt cả). Bây giờ có lúc thảng thốt nhớ lại lá thư của thằng Ngọc viết về có chi tiết bộc bạch rằng “khi vô bộ đội bữa mô tau cũng được ăn no” Những bữa lưng lửng, no no như thế đâu có nhiều nhặn, kéo dài gì? Vô quân ngũ, đứa nhiều thì hơn 2 năm. Như cu Vĩnh mới được mấy tháng đã hy sinh!

Cũng phải bộc bạch trước nhất là với các bạn thuở thơ dại nay đã khuất, sau nữa với mọi người rằng tôi đã lặp lại cái việc đi trứm thời gian ở Khu tập thể cơ quan chỗ Hàng Trống. Khu ấy có tới mấy chục hộ chen chúc ngó thẳng ra Bờ Hồ. Nhiều chiều dẫn thằng cu dạo quanh hồ, tôi ngó quanh quất địa hình chỗ Đền Ngọc Sơn. Đền Ngọc Sơn hồi đó còn hoang vắng bữa bãi chứ đâu được chỉn chu nghiêm ngắn như bây giờ. Lại thấy có người đi câu lươn, tôi quan sát thêm thấy chỗ này đánh… chứm lươn rất tiện. Về quê thủ theo mấy cái chứm cũ. Mồi giun không khó kiếm lắm, mua ở chợ Hàng Bè ngay cạnh. Chứm thì giấu chỗ kín. Chiều muộn như một thi sĩ nhàn tản dạo hồ, tôi kín đáo nạp mồi giun cho mấy cái chứm. Sáng tinh mơ trong vai kẻ chăm tập thể dục tôi đi thăm chứm. Bữa đầu tiên nâng cái chứm lên, trống ngực cái thằng xa quê cứ thùm thụp! Bởi một khoái cảm tuyệt vời, một quá vãng ấu thơ đột ngột  phát lộ. Độ quẫy những chú lươn béo nẫn giẫy trong chứm như truyền qua tay dội thẳng tới tim. Có bữa cái túi vải tôi mang theo trĩu tay. Gần chục con lươn chứ ít gì. Tôi nói với bà xã lươn mua ở chợ Hàng Bè vì không muốn phát lộ cái thuở hàn vi quê kiểng. Thứ này giành nấu cháo cho thằng cu đang suy dinh dưỡng thì tuyệt.

Hơn một năm hành nghề tứm lươn phải bỏ. Đâu như năm 1983. Duyên do là bảo vệ Hồ Hoàn kiếm phát hiện. Lại đe nếu lần sau bắt gặp sẽ tư giấy về cơ quan!

***

Lại nói chuyện đi tranh. Lên những núi Đồng Hóp, núi Lăng và xa nữa Gạch Xay để cắt ( bứt) tranh ( gianh) tranh về lợp nhà. Tranh ( gianh) có 2 loại. Tranh lá và tranh săng. Đi tranh thường vào mùa tháng chín, khi những cơn heo may rải đồng, trời bắt vào hanh hao. Ngả tranh từ sáng. Qua trưa, tranh ngót, héo thì thu, buộc gánh về. Tranh săng có chút tinh dầu nên trơn. Mình tính vội hấp tấp, tốc tả muốn nhanh. Lại không biết bó. Nên khi cất gánh tranh lên bị tụt. Tranh xổ ra. Bực mình đứng khóc. Chị Tồng nom thấy cất giọng khẽ khàng  cứ từ từ cu em…

Chị gỡ ra xếp từng lọn tranh thứ tự rồi bó lại. Hai bó tranh ngay ngắn ngó ngon ơ.

Lũ chúng tôi thường theo chị Tồng đi tranh, đi củi. Cữ nghỉ hè, không tối nào là cả bọn không tập trung ở nhà chị Tồng hoặc nhà đứa nào rồng rộng. Chị Tồng dạy chúng tôi hát, múa…

Chị Tồng người nhỏ tanh tách. Là con gái lớn, trăm việc đến tay. Thứ gì cũng thạo. Người chị gày nhỏ có lẽ nhà thiếu ăn từ bé. Chả khi nào thấy chị thở than. Mà có thở than kêu ca chị trút, chị giấu nó vào câu hò. Sau này lớn lên đi xa, nghe người ta nói cái điệu chị Tồng thường hò là hò Sông Mã.

Giọng chị rất trong, lanh lảnh.  Trên ngọn núi Lăng, Gạch Xay mỗi lần đi củi đi gianh với chị nghe chất giọng lảnh lót khi chị hò đối đáp chợt thấy cái dáng của chị  như  cao bổng hẳn lên.

Mà cũng lạ, xứ núi vốn vắng. Thể nào mà khi chị Tồng hò thì chỉ một chốc cũng có người đi củi, đi gianh hay chăn bò đi làm nương… cách đó một quãng hoặc xa hơn hò đối đáp với chị Tồng. Hò đối đáp, bên đối không cứ là nam hay nữ. Tất nhiên chị Tồng mà hò thì chỉ mong bên đối bên đáp là nam thì mới khi thế và có hứng.

Cái tài là tất tật câu chuyện hay những nhắn nhủ, thở than khích bác, giễu nhại ca tụng… đều biến thành thể lục bát. Cứ như thể bên đối bên đáp tự bao giờ đã là nhà thơ, nhà lục bát vậy. Tất nhiên vốn để hò có thứ thuộc có sẵn từ trước. Nhưng đa phần phải nhanh nhạy ứng tác miễn vần là được. Lũ chúng tôi phục cái tài ấy của chị Tồng.

Hình như có bao nhiêu sức khỏe khí lực chị thả tất nó vào những âm vực lanh lảnh. Nhất là đêm có trăng. Chúng tôi theo các anh chị lớn tuổi đi theo chị Tồng như trợ lực. Lực lượng hò của làng Lon tập trung quanh cái giếng làng. Còn bên đối đáp xuối xuống một quãng xa là cuối bờ đê Đập 12 thuộc xã dưới.

Hơn 60 năm đã vèo qua. Còn mang máng chị Tồng hò như này.

Ớ hò…Thuyền than lại đâu bến Than/ Chúc anh hai chữ bình an xuôi dòng.

Thuyền than lại đậu bến Than/ Thấy anh vất vả cơ hàn em thương.

Cũng đôi lúc xảy ra căng thẳng giữa hai bên. Chị Tồng cất giọng lảnh lót.

Tiếng ai thanh thảnh thanh thanh/ Tiếng ai như tiệng ( tiếng) thằng ranh mới hò

Bài trước về ốc nướng Đồng Lụt tôi có nhắc đến thằng bạn sát nhà, anh cu Vĩnh.

Vĩnh tính lành rất thích trẻ con. Bố mẹ bỏ nhau, cu Vĩnh không có em. Thấy trẻ hay tụ tập ở nhà cu Vĩnh, chị Tồng bộc bạch với Vĩnh như với một cán bộ thôn.

“Trẻ con làng ta không có lớp mẫu giáo. Bọn trẻ đến độ tuổi mẫu giáo không có lớp hay chơi bậy ăn bậy. Hay là em đi học lớp giáo viên mẫu giáo đi. Chị nói với các ông ấy cho”

Thế rồi cu Vĩnh đi học lớp giáo viên mẫu giáo trên huyện. Không mất tiền vì chị Tồng có bạn trên huyện. Lớp học chỉ hơn 2 tháng. Chị Tồng với cu Vĩnh đi các nhà chuyện trò gom được 13 đứa. Lớp học khi thì nhà kho HTX, lúc thì ở nhà Vĩnh hoặc bên nhà tôi.

Thay vì gọi “cô” bọn chúng kêu bằng “ thày” Thày Vĩnh. Thày Vĩnh, cô mẫu giáo đầu tiên của làng Lon. Thày Vĩnh học hết lớp 7. Thày múa, thày hát. Thày dạy trò bắt đầu từ ABC. Giáo án hình như thày nghĩ ra.  Thày dậy không có lương. Chỉ chút ít công điểm quy ra thóc đâu chỉ hơn chục kg tháng. Năm 18 tuổi lớp mẫu giáo phải dừng sau 5 năm học vì thày Vĩnh vô bộ đội. Gần một năm sau thày hy sinh ở Quảng Trị.

Cháu yêu chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê

Chim vui ca đùa nô bên hoa. Cúc cu cùng nhau vui hát mừng…

Bây giờ tôi và nhiều các cụ bảy tám mươi ở làng Lon vẫn nhớ câu hát thày Vĩnh bày cho các trò.

Về làng. Tôi chống nạng đỡ hai bên gối đã thành tật.

Đồng Hóp là cái xóm mới  giăng giăng những nhà mái bằng.  Nghe tin chị Tồng mất đã lâu. Chị lấy chồng làng dưới cách Làng Lon 3 xã. Lọc cọc sang thắp hương cho Vĩnh. Hỏi người làng thì cái giống ốc bươu đã tiệt nọc mất giống tự hồi nào. Và từ lâu rồi, làng chả ai đi “ tứm lươn” cả.  Hỏi thêm thì ra giờ dùng nhiều thuốc sâu, thuốc bảo vệ thực vật cái giống lươn chạch đã biến mất. Cấn cấn đòng đong rồi đến thứ đỉa dai hoi gớm giếc cũng chả còn nữa là…

Bức tranh phong cảnh quê hương TSD 497 với kích thước chuẩn khi chưa đóng khung

Bóng thị Làng Lon

 

Làng Lon quê tôi tên chữ là Việt Yên. Làng có từ thời Lê sơ thuộc Tổng Biện Thượng.

Số là làng lớn Biện Thượng từ đời thượng cổ  do ba làng hợp lại. Mỗi làng mang tên một con vật. Làng Báo to nhất. Bồng, Báo là địa danh cổ có tiếng về đất học hành cũng như cái đức rèn cặp người.  Chả thế mà vở chèo Quan Âm Thị Kính có câu ngựa bất kham thôi phó về Bồng Báo. Làng Lon nhỏ hơn làng Báo. Lon là giống vật chỉ con cầy hương lanh lẹ đi đâu cũng tiết ra thứ xạ thơm lừng. Giống cầy hương hay xạ hương là một tên gọi. Làng Sóc chỉ giống Sóc, bé nhất nhưng là nơi phát tích vị chúa tiên khởi Trịnh Kiểm khởi đầu cho lịch sử 12 đời chúa Trịnh với 249 năm trong sử Đại Việt chẳng đế chẳng bá quyền khuynh thiên hạ tạo nên chế độ lưỡng đầu chế độc đáo nhất của lịch sử Việt Nam.

Chuyện xứ Đồng Hóp – Truyện thiếu nhi của Xuân Ba

Báo, Lon, Sóc là tên nôm của Biện Thượng. Và lạ sao, những tên giống vật ấy cứ đeo mãi cho ba làng đến tận bây giờ?  Thời cuộc biết bao những đổi thay chóng mặt nhưng cái làng quê thèo đảnh nép dưới chân núi như làng tôi vẫn mang cái tên nôm cũ là Làng Lon mà ít khi gọi cái tên chữ là làng Việt Yên!

Làng có một thứ lạ. Ấy là cây thị.

Một dạo ầm cả lên phong trào tôn vinh cây Di sản. Từng nghe nơi này vùng khác người ta tấp nập làm hồ sơ để xét duyệt… Rồi qua các phương tiện truyền thông được biết nhiều loại thụ mộc trong đó có loài thị được xếp hạng là cây Di sản.

Tôi có ngó qua một bài đăng trên báo.

“…  Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam và UBND xã Bình Sa (huyện Thăng Bình, Quảng Nam) đã tổ chức “Lễ đón nhận danh hiệu Cây di sản Việt Nam cho 3 cây thị nằm trong khuôn viên nhà thờ Tiền hiền làng Tiên Châu”

Theo đó, cây thị phía phải của nhà thờ khoảng 218 tuổi, chu vi 2,75m, đường kính 1,05m, cao 20m; cây thị phía trái nhà thờ khoảng 173 tuổi, chu vi 2,64m, đường kính 0,84m, cao 18m. Riêng cây thị phía sau nhà thờ có độ tuổi cao nhất với 243 tuổi, chu vi 3,73m, đường kính 0,81m, cao 18,1m.”

Tự hào chia vui với dân Thăng Bình của Quảng Nam, tôi chợt nghĩ đến cây thị của làng mình.

Cũng băn khoăn và có ý tiếc, tại sao làng Việt Yên lại chẳng chịu khó làm hồ sơ trình duyệt nhỉ?

Có thể nói về chu vi, đường kính lẫn chiều cao, nhất là tuổi tác, ba cây thị Di sản quả khó so với  gốc thị làng Việt Yên.

Đường kính cây thị Việt Yên chưa đo cụ thể nhưng ước lượng phải trên 3 mét. Còn độ cao hơn ba chục mét là ít. Ấy là với người phàm trần, mắt thịt. Còn tuổi thọ?

Nhớ cái năm xa được bám theo tổ công tác của GS Trần Quốc Vượng về điền dã, thám sát khu vực Ly Cung nhà Trần  thuộc xã Hà Lĩnh ( Hà Trung) và Phủ Trịnh ( xã Vĩnh Hùng) cùng khu vực Thành Nhà Hồ. Trên xe tôi buột miệng về cái làng Việt Yên của mình. Thày Trần Quốc Vượng vốn dễ tính đã chiều tôi. Thày cùng mấy thành viên tổ công tác có ghé làng Việt Yên!

Bữa đó Thày Vượng đã rỉ rả hồi lâu về những suy đoán lẫn khẳng định rằng, làng Việt Yên vốn dung chứa nhiều di tích liên quan đến Phủ Trịnh và nhà Trịnh.

Dừng chân dưới gốc thị cao vút, sum xuê ngự trong khoảng vườn hoang liền kề chân núi làng Việt Yên gối với dãy Hùng Lĩnh, GS Vượng và tổ công tác như chôn chân trong khoảng rợp um tùm choán hàng trăm mét vuông bóng râm của tán cây thị.

Lại đang đúng mùa quả, dưới chân chúng tôi là sắc vàng lấp ló tãi khắp thứ quả chín rụng xuống. Cả một vùng không gian sực nức hương thị. Thày Vượng có tò mò hỏi và lấy làm lạ khi biết thứ quả thơm thảo này dân ở đây ít ăn ngoài trẻ mỏ. Bán ít người mua. Và cũng chả được mấy hột tiền nên hết lớp này rụng đến lớp khác cho kỳ hết mùa thị thì thôi. Ông chú tôi tuổi đã cao có tò mò hỏi GS Vượng tuổi cây thị. Ông cười “ Tôi có biết tuổi cây đâu!”

Rồi GS thong thả lướt mắt từ thân gốc xù sì mốc thếch nhưng u mấu tuổi tác dẫn lên tít tầng không, chất giọng thư thả đại ý, ông đã từng gặp nhiều loại thị mà người ta đã xác định được tuổi tác niên đại. Cỡ như này phải sáu, bảy trăm năm là ít!

Không xa gốc thị, những khoảng gạch ngói đổ nát rêu phong còn sót lại một cái móng như đang tố giác nơi đây trước kia là thứ đình chùa miếu mạo chi đó. GS hỏi thì được dân làng cho hay có một ngôi chùa rất hoành tráng đã bị phá đầu năm 1960 có tên là Chùa Nghè Thượng.

Ngồi chuyện với dân làng, được biết làng Việt Yên đây, thuở xa xưa có tới hơn chục ngôi chùa, đình, miếu. Như một vế đối tâm linh, làng có chùa thờ Phật ắt có Phủ thờ Mẫu. Không xa Nghè Thượng là Phủ thờ Mẫu gọi là Phủ Nhà Bà. Nhưng đã bị bằng địa sạch bách. Chả bom đạn thực dân phong kiến nào đụng đến mà là hậu họa của một thời nông nổi!

Dân làng kể lại cuối những năm 50, đầu 60 còn ngôi Phủ ở cuối làng khá bề thế. Và điều kỳ lạ bên Phủ cũng có một cây thị cũng hoành tráng như cây thị bên chùa. Nhưng bây giờ Phủ lẫn cây thị đã biến mất. Phủ được phá để lấy gạch xây lò sấy thuốc lá.

Thày Vượng thì đang nghe lại… Nhưng tôi khi loáng thoáng, khi mồn một  cái thời nông nổi, bi thương ấy….

Khi  lãnh đạo Hợp tác xã quyết xẻ cây thị để lấy củi phục vụ cho các lò sấy thuốc lá thì mới chạm cưa thốt nhiên đã nghe tiếng khóc văng vẳng… Rồi không biết cơn cớ gì, các lưỡi cưa cứ lần lượt oằn mẻ.

Nhớ chiều ấy đã sậm muộn. Hoàng hôn cứ chùng chình như chả chịu buông?  Bất đồ không hiểu sao , lũ quạ lâu rồi vốn bặt tăm nay tự dưng kéo nhau về chao chác trên những tàn cây thị cất tiếng kêu man dại.

Không ít những người bàn lùi. Nhưng tốp thợ đã được Ban chủ nhiệm HTX trực tiếp gặp đả thông tư tưởng bằng một chầu thịt chó túy lúy! Người ta quyết hạ cho bằng được cây thị cổ.

Lạ thay, gốc thì tày vòng ôm của bốn người,  các mạch cưa  ngang cây đã khép lại mà thân thị vẫn trơ khấc. Đám thợ hoảng quá lùi ra xa. Mãi non một ngày, cây thị mới chao đánh rầm quật nát cây con một vùng!

Rồi sau đó những ương ách ốm đau tai nạn cứ thình lình xảy ra với kíp thợ từng đốn xẻ cây thị. Người ta đâm khiếp. Thế là kế hoạch hạ nốt cây thị cổ thụ ở bên chùa Nghè Thượng đành phá sản. Và may cụ thụ mộc ấy còn sót lại đến bây giờ!

Mé trên gốc thị cổ ấy còn có một tòa miếu cổ. Nghe các cụ kể lại ngày xưa miếu hoành tráng lắm. Miếu có từ thời Lê Trịnh. Nghe truyền lại là đích thân một vị Chúa Trịnh đã cho xây cùng thời với hàng chục ngôi chùa ở làng Việt Yên. Miếu ấy ghi công tích coi sóc của một vị nhân thần đã chở che coi giữ vùng đất phát tích chúa Trịnh. Ngôi miếu có tên là Nghè Đổng. Sở dĩ có cái tên ấy nghe nói vị Chúa Trịnh nọ lấy nghĩa “ Đổng” là cao nhất là nơi thờ ông thần linh thiêng nhất – thượng đẳng tối linh. Sau này nhiều người nhầm là thờ Ngài  Phù Đổng Thiên vương. Nói nhầm cũng phải. Hình thế Nghè Đổng khá bắt mắt. Bên Nghè có một hòn đá nói đúng hơn là cột đá nằm nghiêng dài gần 3 mét trông rất uẩn súc. Còn nhớ GS Trần Quốc Vượng, khi thoáng nhìn thấy hòn đá nghiêng đã thốt lên ngạc nhiên nói rằng đây là một biểu tượng của linga ( tượng trưng cho sinh thực khí của phái mạnh?) Rồi loang thêm truyền thuyết hòn đá rằng Ngài Phù Đổng dịp nào đó đặt chân đến xứ này đã từng buộc ngựa!  Dai dẳng, vấn vương cái tên Nghè Đổng là vì thế!

Hồi tôi lớn lên tòa miếu đã đổ nát. Chỉ còn sót lại một phần hậu cung. Có một chuyện lạ sau này loang khắp làng. Anh cu Vẹn hồi đó tầm  mười sáu tuổi đã là thợ đánh đá có nghề của làng.  Loại đá núi chắc khừ được chặt quai ra rất tiện dụng cho việc xây cất vì gạch xứ này khi đó hiếm.  Đá khu vực xung quanh cạnh Nghè Đổng đã quai đã đập hết. Anh cu Vẹn ngắm nghía từ lâu cái hòn đá nằm nghiêng kia.

Rồi anh  táo gan dùng búa tạ quai vào chân cột đá. Những âm thanh chát chúa bật lên. Bất đồ anh cu Vẹn ngã quay lơ. Cứ tưởng cu Vẹn phạng búa vào chân hay mảnh đá bắn vào. Đám thợ vực dậy soát xét thì tay chân cu Vẹn chả hề hấn gì!

Nhưng việc phải dừng lại vì cũng tầm nhá nhem rồi.

Đêm ấy cu Vẹn bỗng nhiên nổi cơn sốt đùng đùng. Đánh cảm mãi cũng chả khỏi. Bửng tưng hôm sau, hai hòn dái cu Vẹn bất đồ sưng tướng lên. Thuốc thang gì cũng chả đỡ.

Ba hôm sau, người nhà võng xuống trạm xá xã rồi các bệnh viện, huyện tỉnh.

Nghe cu Vẹn ốm, một người bà con ghé thăm. Rồi tò mò hỏi sự tình. Bố anh cu Vẹn cứ tình thực nói cháu nó chiều hôm trước có đánh đá ở khu vực Nghè Đổng. Người bà con ấy nghe vậy thất kinh ghé tai bố cu Vẹn thầm thì gì đó.

Ngay hôm sau người ấy cũng bố cu Vẹn khăn áo sang chùa Báo ngôi chùa linh thiêng ở xã dưới. Rồi một cái lễ giản đơn gồm con gà đĩa xôi hương hoa bày dưới chân cột đá. Sư trụ trì chùa Báo thân chinh cúng kiếng hồi lâu rồi bảo bố cu Vẹn thành tâm cầu xin thánh thần thổ địa cho con tai qua nạn khỏi.

Lạ thay, cuộc lễ mọn ấy dưới chân cột đá nghiêng bên miếu Nghè Đổng kết thúc cũng là thời điểm anh cu Vẹn ở bệnh viện tỉnh ( bệnh tình không thuyên giảm đang chuẩn bị chuyển tuyến ra Hà Nội) trở nên tỉnh táo. Và sáng sau thì anh cu ra viện về lại làng.

… Mấy năm trước, xót tiếc vì cái làng Việt Yên có hàng chục ngôi chùa đã bị phá trong đó có Nghè Đổng, dân làng Việt Yên đã chung tay người góp tiền, người góp công góp sức tu tạo lại ngôi miếu Nghè Đổng đổ nát. Chỉ ít tháng xúm tay, nay ngôi miếu đã tạm bặt mắt được coi là nơi thờ Thần thành hoàng của làng có nơi cho dân thờ cúng, tâm linh.

Hôm khánh thành ngôi miếu Nghè Đổng ( đợt 1) về làng tôi lại có dịp ngồi với anh cu Vẹn nay là chú Vẹn tuổi ngoài hoa giáp ( 60) Được bà con cho biết, chú Vẹn từ lâu đã bỏ nghề đánh đá ( nạn khai thác đá núi bừa bãi của làng nay đã vãn vắng đi nhiều) chính là người tích cực góp công tu sửa ngôi miếu Nghè Đổng. Những bậc thang ken bằng đá chấy ( trái) nho nhỏ tạo những lối đi ngoạn mục dẫn lên Nghè Đổng  được chú Vẹn có cách thi công khá sáng tạo.

… Tôi ghé làng lâu lâu dịp Biện Thượng được nhà nước quyết định cho xây cất lại di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh ở trung tâm xã  ( cách làng Việt Yên non 1 km. Nơi các chúa Trịnh từng đặt hành cung cùng hành cung ở Thăng Long để điều hành việc nước)

Cứ tiếc rằng thày Vượng, GS Trần Quốc Vượng đột ngột về cõi đã lâu rồi. Thày mất mang theo cả ý định sẽ tìm ra trong mang mang huyền sử những dòng chính sử bện quện nối cái làng Việt Yên với thời phát tích lẫn hưng nghiệp của chúa Trịnh và dòng Trịnh làng Sóc Sơn tỏa ra khắp nước.

May mà cây thị làng Việt Yên hãy còn sót đây cứ như chứng nhân một thuở một thời của lịch sử Đại Việt hơn 500 năm trước. Cây thị cổ có thể là một tiêu chí một dấu mốc để các sử gia nối tiếp ý định của GS Vượng và cũng là đầu mối để nối mạng tiếp với tiền nhân?

Cây thị như chứng nhân một thuở một thời những lọn khói xanh thơm nức mà Chúa Trịnh thuở hàn vi cùng chúng bạn sau buổi tập trận giả nghịch quấy nướng ngô nướng sắn và không ít bận cả gan bắt trộm bò đem thui để khao quân!

Cây thị cổ và cả Dinh cơ Nghè Thượng từng trầm mặc chứng kiến cuộc khởi nghĩa trứ danh Hùng Lĩnh. Cái cảnh nghĩa quân Tống Duy Tân mùa đông năm 1887 về đóng chật quanh Cây thị để bàn phương cách đối phó với đội quan binh hùng mạnh do thiếu tá Phú Lãng Sa Térillon chỉ huy đóng ngay cái làng Đa Bút trước mặt.

Tại Nhà giải vũ ngôi Nghè thượng kề với Gốc Thị linh thiêng, Chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa Tống Duy Tân cùng hai cộng sự đắc lực là Đề đốc Cao Điền ( bản chép là Điển) và tù trưởng người dân tộc Thái Cầm Bá Thước  chụm đầu nhau bàn bạc.

Và cũng cây thị Linh thiêng ngời xanh ngàn mắt lá lưu luyến đưa tiễn thủ lĩnh Tống Duy Tân thất thế rời chạy lên mạn ngược rồi bị sa vào tay giặc.

(Còn tiếp)

XUÂN BA

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com