Chuyện xứ Đồng Hóp – Truyện thiếu nhi của Xuân Ba – Kỳ 4

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 22:09

Loài ấu không riêng chi xứ Vĩnh An, mà vùng chiêm trũng của Bắc Bộ của duyên hải Bắc Bộ của miền Trung, của trung du có mà ối! Hình như giống ấu Việt có từ thời thượng cổ? Ấu mọc từ bùn đất vượt qua khoảng nước đồng chiêm chấp chới bồng bềnh thứ lá hao hao như lá súng. Đến cữ đến kỳ, nảy ra thứ hoa ấu độc đáo dần dà biến thành quả tức củ ấu. Nâng khóm ấu lên, lúc lỉu củ ở các nách lá. Thứ bánh tẻ, thứ già… Cái giống gần bùn ở với bùn đấy mà sao cách biệt xa vời. Đem luộc, hấp lên. Đập khẽ hoặc cắn nhẹ làn vỏ cứng vừa phải ấy tức thì phát lộ một khoảng trắng ngà nuột nà. Bập răng vào cứ là bùi lật!

Nhà văn – nhà báo Xuân Ba tên thật là Trịnh Huyên.

Nhớ ấu

 

Mới đây, ghi dấu 55 năm ngày vào  Cấp 3 trường huyện,  đám chúng tôi, những cô cậu ngày ấy nay là những lão ông, lão bà có một cuộc tụ tập tại một nơi danh lam  thắng tích quê nhà. Đó là động Kim Sơn thuộc xã Vĩnh An. Xứ ấy có nhà sàn có hồ nước, có động cùng  suối quanh co men núi đá.

Oách xà lách! Nói có sách. Xin trích ra đây đoạn trong sách Đại Nam thống nhất chí (trang 259)  chép về cái địa thế động Kim Sơn của làng Vĩnh An như này.

“ Núi Kim Sơn còn có tên là núi Biện hoặc núi Bông. Mạch núi từ phía đông Hùng Lĩnh theo ven sông Mã mà đổ xuống vọt nên 29 ngọn đứng xa mà trông hiện ra nhiều hình như tàn lọng như lâu đài như cờ quạt như voi ngựa… Ngọn Cốc Sơn cao chừng 30 trượng chân núi có hang lớn hai đầu thông ra đầm sâu có thể đi thuyền suốt đầu nọ sang đầu kia được…”

Xứ Vĩnh Lộc quê tôi vùng chiêm trũng thì nhiều nơi có. Nhưng giời phú ( hay trời hành?) cho  xã Vĩnh An tít cuối huyện một thổ ngơi lầy thụt  sinh sôi nảy nở ra cái giống ấu thì Kim Sơn của Vĩnh An là nhất!

Nhất cả diện tích, sản lượng cho đến thời điểm này. Hàng trăm hộ nuôi ấu. Thu hàng chục tấn củ. Sắc vàng xanh choán chiếm trên đồng chiêm mênh mông. Rồi bò, rồi lan dọc kênh mương đến tận hồ ăn sâu vào  các động. Màu ấy của giống ấu khi thanh tân hoặc trở về già mà vòng đời nội chỉ non một năm. Tháng mười gieo giống ( củ). Tháng sáu có thể thu hoạch được rồi.

Ấu là thứ gì vậy? Tôi đâm giận lây mấy bà bạn hơn nửa thế kỷ gặp lại khi mới tới Kim Sơn, cả bọn đang quây quanh mấy gánh hàng rong bán ấu. Mấy bà bạn này quê vốn ở mạn Bắc huyện. Hóa ra họ chưa nhìn thấy cái giống ấu bao giờ. Rồi đi làm ăn xa. Có người từng định cư ở nước ngoài hàng chục năm. Nay về quê, sững người khi ngó thấy thứ củ gì mà hình thù nguềnh ngoàng méo xẹo. Lại hao hao giông giống cái đầu trâu, thủ bò làm vậy?

Loài ấu không riêng chi xứ Vĩnh An, mà vùng chiêm trũng của Bắc Bộ của duyên hải Bắc Bộ của miền Trung, của trung du có mà ối! Hình như giống ấu Việt có từ thời thượng cổ? Ấu mọc từ bùn đất vượt qua khoảng nước đồng chiêm chấp chới bồng bềnh thứ lá hao hao như lá súng. Đến cữ đến kỳ, nảy ra thứ hoa ấu độc đáo dần dà biến thành quả tức củ ấu. Nâng khóm ấu lên, lúc lỉu củ ở các nách lá. Thứ bánh tẻ, thứ già… Cái giống gần bùn ở với bùn đấy mà sao cách biệt xa vời. Đem luộc, hấp lên. Đập khẽ hoặc cắn nhẹ làn vỏ cứng vừa phải ấy tức thì phát lộ một khoảng trắng ngà nuột nà. Bập răng vào cứ là bùi lật!

Chính cái hình hài ngộ nghĩnh hao hao đầu trâu đầu bò ấy là niềm thao thiết tuổi thơ tôi. Chợ nghèo Bồng Hạ mùa ấu bán rặt giống ấu Kim Sơn Vĩnh An. Mẹ nghèo đi chợ nghèo.  Đơn vị đo lường không phải bao nhiêu củ ấu mà bằng lon sữa bò như đong gạo vậy. Bấm bụng bỏ ra hai hào bạc được hai bơ ấu. Lon ton đón mẹ từ chợ về, sốt ruột rồi hỗn hào kéo tuột cái  vỉ buồm mẹ đậy hờ trên chiếc mủng. Tức thì vuột ra những củ ấu.

Mẹ phải thân chinh chia cho công bằng. Háo lắm. Thèm lắm.  Nhưng chưa ăn vội. Đứa thì lấy chỉ buộc cái sừng ấu khoác tòn ten lên ngực. Đứa thì mang sẵn cái thân trâu thân bò bằng đất sét từ sáng đã nặn sẵn. Ghim củ ấu vào. Thoắt hình con trâu con bò. Chao ôi là giống  Những đám răn trên gương mặt mẹ giãn ra nhìn lũ con tưng bừng hồ hởi. Chừng như người có chút hài lòng như lây lan với niềm hạnh phúc được đánh đổi chỉ với hai hào bạc?  Khi ấy chúng con đâu biết, từ thứ sản vật thứ quà quê nghèo và hình hài méo xẹo của củ ấu, một thông điệp về lòng người thói đời về thế thái nhân tình từ thượng cổ đã lặn vào đời mẹ rồi truyền mãi cho các đời sau cái câu “ yêu nhau củ ấu cũng tròn/ Ghét nhau quả bồ hòn cũng méo”

Nhớ thuở học ở Phố Giáng Vĩnh Lộc ở nhờ chỗ bác Quềnh Hội trưởng Đông Y huyện. Có người quen ở Vĩnh An nên mùa ấu nào cũng uỵch chỗ Hội Đông y mấy bao tải ấu. Chưa hết còn thêm mấy bì tải củ súng ( quê tôi kêu củ sấm) nữa. Ấu thì lấy dễ, nhưng tôi biết thứ củ súng đen thui nần nẫn nhỉnh hơn trái mận kia phải ngâm mình dưới ruộng bùn nước chấm cằm để móc lên. Bác sai mấy đứa chúng tôi tãi ấu và sấm ra rồi đem phơi. Độ ba, bốn nắng hai thứ củ ấy đã quắt lại.

Tôi tò mò ngó đám gia nhân lấy búa khẽ đập cho bong vỏ. Lộ lần thịt trắng nuột. Rồi lại đem cái nhân ấy phơi. Xong đâu đấy họ đem sấy khô và dùng cái thuyền tán nghiền thành bột.

Bác Quềnh sai lấy thứ bột súng và ấu ấy trộn lẫn với bột ý dĩ ( một vị thuốc bắc). Thứ bột hỗn hợp ấy, bác đem ngào với lá dâu tằm đã đồ chín giã nhỏ cùng mật mía. Vừa làm bác vừa giảng giải cho mấy anh thợ học nghề rằng giá như có mật ong thì tốt đành dùng tạm mật mía vậy!

“ Các anh có biết củ ấu tên thuốc là chi không? Tên chữ nó là thủy lật ký thực”

Chất giọng sang sảng của bác tiếp tục “Theo Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, củ ấu vị ngọt chát, tính bình. Công dụng thoát tả, giải độc, tiêu thũng. Còn củ súng có tên là Khiếm thực vị ngọt tính bình, đặc biệt bổ tỳ vị. Các vị ấy kết hợp với ý dĩ vị thuốc bổ tỳ. Lại được sự trợ dẫn của vị lá dâu ( tang diệp tang thầm) thành thứ hoàn tán. Rất công hiệu với dạng trẻ con gầy còm ốm yếu được ví như phì nhi cam tích. Người lớn sau ốm dùng rất mau vượng sức”

Khi ấy nghe vậy thì biết vậy. Mãi sau này tôi mới có dịp tò mò ngó qua cái phương thuốc bổ bí truyền ( chẳng hay bác có gia giảm thêm thắt vị gì không mà bán khá chạy?) của bác Quềnh. Bác có tiếng thạo y lý lại rất chịu khó học hỏi nghiên cứu.  Hàng trăm vị thuốc đông y, bác rành thuộc cả. Nhưng nhiều vị thuốc bắc quý khi ấy, đắt đã đành nhưng rất khó kiếm. Bác tỷ mẩn thử nghiệm lấy nhiều dược liệu sẵn có ở quê thay thế. Vậy mà rất công hiệu. Có phải vì phương cách “ Nam dược trị Nam nhân” sáng tạo và khoa học, bác nổi tiếng khắp tỉnh là ông thày đông y mát tay? Ngay cái khoản củ ấu mộc mạc quê nhà, sau này tôi được đọc trong một tài liệu của Viện Trung Y Bắc Kinh, đại loại củ ấu có nhiều dược tính quý trong đó có abumin và đặc biệt có chất AH 13, chất chiết ung thư gan được dùng để hỗ trợ điều trị chữa trị ung thư.

Giờ ngồi viết những dòng này như đương thư thả đâu đây ông bác ông thày đông y ( cụ thân sinh thằng bạn cùng học từ thuở bé, Trịnh Nguyên Hùng )  dáng người mảnh mai, da trắng xanh, hễ rỗi thì tay lúc nào không rời những cuốn sách chữ Hán. Về khoản chữ thảo của cụ thì thôi rồi. Sau này có tập tọng thư pháp, đám chúng tôi chỉ ước ao tập được dạng chữ thảo của bác khi kê đơn thuốc. Có thể nói mỗi một tờ đơn kê các vị thuốc cho con bệnh, những nét thảo ấy đã tạo nên một bức thư pháp hoàn hảo! Nhớ tiếc những tờ đơn thuốc- bức thư pháp ấy nay đã thất tán, bâng khuâng thêm về cái công, cái tài của tiền nhân đã từng nâng cấp đã từng thăng hoa thứ sản vật tầm thường đen đủi  của quê nhà thành những phương thuốc danh giá có tác dụng trị bệnh cứu người!

***

Lũ chúng tôi cứ căn cứ vào thắng cảnh Động Kim Sơn từng ghi vào sử sách thi thoảng lại vui tếu rằng “ địa linh ắt sinh nhân kiệt” Rồi vận vào để chỉ một người con của quê hương Kim Sơn Vĩnh An là thày Hà Minh Đức! GS Hà Minh Đức Giải thưởng Hồ Chí Minh!

Thuở là học trò của thày ở Khoa Văn Đại học Tồng hợp chỉ dám kính nhi viễn chi ( ở xa mà ngó mà kính) Rồi khi thày đã cao niên và thày trò cùng … hưu thì chúng tôi hay ghé thày nhất là những đận được ngồi với thày mỗi khi tổ chức họp lớp. Lần ấy có một đứa ( nó bây giờ cũng là GS) đánh bạo rằng,  Thầy ơi chúng em đang ngồi không phải với GS Hà Minh Đức từng  có nửa thế kỷ trên bục giảng mà đương ngồi với nhà văn Hà Minh Đức với 30 năm sáng tác. Từng là tác giả của nhiều tập bút ký và 8 tập thơ. Vậy mà hình như cái hình bóng danh lam thắng tích hang động Kim Sơn Vĩnh An cũng sản vật quê nhà như củ ấu chưa thấy trong những con chữ của thày…

Vị GS cao niên như cuốn theo không khí thân gần tuế tóa của đám học trò, Thày cười “ Anh nói rồi đấy nhé. Chưa thấy chứ không thấy!” Thày nói vậy chẳng hay có ý định viết viếc gì không? Nhưng tôi thấy anh bạn GS hơi vị vội? Bởi một lần tôi được chứng kiến ngồi với  mấy nhà nghiên cứu xứ Thanh, GS nêu cái băn khoăn cũng là một hướng nghiên cứu khoa học. Rằng những hang động của Kim Sơn từ thời Trần đã có người tránh loạn trú ngụ. Rồi những hang động ấy mở ra từ thời Lê Mạc nhưng hơi lạ chỉ có một số danh thần  Triều Nguyễn như Trương Đăng Quế, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Thuật, Bùi Văn Dị… đề thơ. Vậy mà các hang động Xứ Thanh gần đó lại có bút tích đề thơ của những Phạm Sư Mạnh, Lê Thánh Tông, đặc biệt có vị Chúa “ Thạch thi” là Trịnh Sâm mà ở Kim Sơn không thấy? Hoặc chưa tìm thấy hoặc đang nằm ở động khác đã bị giấu kín hoặc bị đổ sập rồi chăng?

Hướng về mấy học trò là ký giả, thày Hà Minh Đức thẳng thắn rằng, lần thì về quê lần thì nghe được người nhà ở Vĩnh An ra phàn nàn cái nạn nổ mìn khai thác đá ở núi Bông Hang bừa bãi quá lắm. Khu danh thắng Kim Sơn đang bị xâm hại các anh có biết không? Về đó mà điều tra mà tìm hiểu. Góp thêm tiếng nói để giữ được khung cảnh hệ sinh thái quê nhà trên thì giống khỉ nhảy nhót. Dưới hang thì củ súng củ ấu mọc đầy lại cũng chả nên sao?

 

O Thoa

 

Làng Ngãi nằm sát sông Bưởi. Lối xuống bến sông làng Ngãi có một cái trại. Trại theo cách gọi của dân vùng tôi là một cái làng  của các cụ miền Nam tập kết.

Mãi tận sau này vô nghề báo, tôi mới biết được tại sao lại có cái làng tập kết như thế? Xin trưng ra một văn bản mà tôi tầm được. Nó như này ( Xin trích)

Hà Nội, ngày 05 tháng 04 năm 1956

Số: 13-NĐ

Nghị định Thành lập Trại An dưỡng trực thuộc Bộ Cứu tế Xã hội

… Căn cứ tình hình hiện nay, trong số anh chị em miền Nam ra tập kết, có một số các cụ của gia đình cán bộ, gia đình liệt sĩ và một số cán bộ đã già yếu hay mất sức lao động không thể tham gia công tác được nữa.

Các cụ, cán bộ nói trên là những người ít nhiều có công với cách mạng. Vì vậy tổ chức Khu An Dưỡng để chăm sóc về vật chất tinh thần, làm cho các cụ, anh chị em yên tâm nghỉ ngơi an dưỡng, đồng thời cũng để động viên các cán bộ miền Nam ra tập kết công tác nhất là những cán bộ có cha mẹ, anh chị em ở Khu An dưỡng càng yên tâm phấn khởi hơn và thấy rõ sự săn sóc ân cần của Đảng và Chính phủ.

Kèm theo là một lô xích xông các điều khoản quy chế, cách thức tổ chức, chế độ mà các thành viên của Trại được hưởng vv…

Làng Tập kết gồm sáu dãy nhà xây theo kiểu cấp 4. Nhưng chỉ tranh tre nứa lá. Mỗi dãy như thế có mười phòng tức là mười gian. Mỗi gian chừng hai chục mét vuông. Mỗi cụ một gian. Nhưng ở không hết. Chỉ chừng năm, sáu cụ mỗi dãy. Khoảng cách giữa các dãy là khoảng đất trống. Chẳng bao lâu đã rậm rịt xanh rì rau màu những chuối, na các cụ trồng.

Tiếng là các cụ, nhưng người cao tuổi nhất là bác Sáu Lèo, người Mỹ Tho hồi đó 55 tuổi. Còn lại tầm trên 50. Hầu hết ốm yếu, tong teo. Người nào cũng đeo vài thứ bệnh. Nhưng chỉ là thứ bệnh nhẹ. Những ca nặng thì đi các khu An dưỡng ngoài Hà Nội Hải Phòng hoặc Sầm Sơn để điều trị.

Quây tụ đến đây là người của các đơn vị bộ đội dân chính miền Nam tập kết. Thoạt đầu có nhiều cụ người Bình Trị Thiên, Khu Năm… Nhưng sau đó cả khu trại rộng thênh này chỉ còn các cụ người Nam Bộ. Mãi sau này mới biết cái duyên do là tuổi già thường khó tánh. Người Nam Bộ ở với nhau hạp hơn?

Mãi sau này, cái câu không biết tác giả là ai “trước mắt việc đi mãi/ Trên đầu già tới rồi…” cứ ám vào tôi mỗi khi nghĩ đến cái làng Tập kết? “Việc đi mãi” là thời gian cứ vùn vụt trôi. Mà chuyện Tổng tuyển cử cứ vời vợi, thăm thẳm. Trong số các cụ, chắc ai cũng có động thái khi từ biệt người thân trong thời điểm Tập kết ấy đều  giơ hai ngón tay ra. Hai ngón tay là hai năm. Chỉ 2 năm thôi là đến thời điểm Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Hai năm đã qua lâu rồi. Lại tiếp nhiều năm qua nữa. Cái làng Tập kết ấy vốn u tịch lại thêm quạnh quẽ. Bên nghĩa địa làng Ngãi, người ta đã có một khu đất riêng sát chân núi. Hồi tôi  rời quê đi việc mới có mấy năm đã có vài nấm mộ mới. Mộ của người làng Tập kết!

***

Gần làng Tập kết là nhà O Thoa. O lấy chồng người làng Ngãi. Làng Ngãi cách làng tôi chỉ hơn 2 cây số. O Thoa người con cón nhỏ nhắn. Tính tình lại mau mắn xởi lởi. Nên khi lấy chồng, O vốn thân thiết với lũ trẻ con khắp làng nên đứa mô cũng mến nhớ O. O Thoa lấy chồng đâu chỉ được hơn một tuần thì Dượng Thân, chồng O Thoa vô bộ đội rồi lên đường đi B.

Thỉnh thoảng, tôi và đám bạn cùng trật tuổi vẫn rủ nhau nhảo qua nhà O.

Nhà O ở thèo đảnh mé đồi nhưng gọn gàng sạch sẽ. May có thằng Sơn em trai dượng Thân cùng tuổi với tôi, ông bà cho ra ở cùng. Sơn học lớp 6 rất khá toán nhưng kém văn. O nài nỉ biểu tôi thỉnh thoảng qua nhà kèm thêm cho nó.

Có bữa qua nhà, không thấy Sơn đâu,  hỏi thì O thốt như rên     “ Trời ơi, hễ sểnh ra lại tót sang làng các cụ rồi!”

Làng các cụ gần như là giang sơn riêng của đám trẻ con làng Ngãi. Rồi tôi cũng được nhập bọn.

Ngó ngoài thì làng các cụ cũng tươm tươm bắt mắt. Nhưng khi theo Sơn đi vào làng vào từng nhà  thì  cái cảnh tuềnh toàng tạm bợ, ăn xó mó niêu của những người già độc thân.

Nhưng nào có hề chi! Thân thiết với Sơn là một cụ chừng hơn 50 một chút mà Sơn kêu là bác Năm Sánh! Bác Năm người Nam Bộ, dáng gày gò nhưng lanh lẹ, rất quý đám trẻ.

Khu trại của các cụ hấp dẫn bọn tôi lắm. Đầu tiên là cái ăn! Có bao nhiêu là cách để lấp cái dạ dày của lũ trai thau tháu luôn háu đói?

Bây giờ hơi bàng hoàng cái nỗi, những từ như “nướng trui, nướng mọi” là mãi sau này chường mặt lẫn chai mặt việc ăn nhậu Phương Nam mới hay mới nhiễm. Nhưng từ những năm xa những năm đương còn là hai miền chia cắt, bọn tôi đã tường, đã rành.

Cái thứ cóc là cậu ông Giời ai mà dám ăn? Thoạt tiên hãi lắm khi thấy bác Năm móc đất sét phủ kín con cóc còn sống rồi ném  vào đống củi than đương rừng rực. Không phải một mà mấy chục con như bác biểu là nướng mọi. Tôi phải ngoảnh vội đi. Nhưng dần dà mùi thơm khủng khiếp của thứ nướng mọi đó lập tức triệu hồi các dạ dày lại.

Bọn tôi châu tuần quanh mấy tàu lá chuối tươi. Bác Năm cùng vài bác nữa cùng động thái đập nhẹ những mảnh đất sét bọc ngoài giờ đã sắt lại như sành cho tã ra. Động thái đập nó cẩn trọng lắm. Bác Năm bảo phải nhẹ phải cẩn thận vì cái gan cóc vỡ ra ăn phải thì có mà trời cứu.

Cóc chỉ lấy hai cái đùi chấm muối. Ngon không thể tả. Ngoài cóc, có thứ nướng trui, nướng mọi là thằn lằn. Chao ôi những con thằn lằn màu xanh đen ở quê tôi thuở ấy sao mà lắm?

Khó bắt. Nhưng bác Năm đã có cách. Bác khéo léo dùng nứa đan thành những cái lồng con con. Rồi bác cột mấy con châu chấu vào trong lồng. Để qua đêm. Sáng ra, lồng trĩu vài con béo lẳn. Sau này từng được nếm nhiều thứ cao lương mỹ vị nhưng cái món thằn lằn bọc đất sét nướng trui ấy cứ ám mãi?

Một dạo vùng tôi không hiểu sao phát sinh ra lắm ốc sên. Sáng ra thấy lển nghển đầy sân, vườn. Dân làng bắt bỏ vào vại nước tiểu cho thối dùng tưới rau.

Lại cũng bác Năm bày cho lấy nước vôi loãng bỏ ốc sên vào cho nhả bớt nhớt. Luộc chỉ lấy miệng ốc. Lại bóp nước vôi loãng và lá bứa cho cho sạch nhớt. Tốn công một tý nhưng xào với khế. Thứ ấy đụng miệng hơi khó dừng!

Và nhái.

Đương mùa mưa. Ếch hơi khó kiếm nhưng nhái có mà ràn rạt. Thuở ấy chưa nhiều những thứ thuốc trừ sâu như  DDT, 666. Môi trường hẵng còn trong veo. Một lần cùng Sơn qua trại thấy các cụ làm chả nhái. Lột da. Băm nhỏ với rau thơm với ớt. Viên bằng quả mận đem rán.

Không chỉ thơm suông mà còn đậm miệng vô cùng.

Rồi cái quả ổi xanh? Làm chi? Làm chả. Ổi xanh phải chịu khó gọt vỏ giã cho nhuyễn. Không có thịt thì thay bằng ếch nhái băm nhỏ trộn đều. Có tí bột mỳ thì tuyệt. Đem rán lên. Cả một khu trại dậy lên mùi thơm khó tả!

Bây giờ môi sinh bị tàn phá cấm có thấy cái con niềng niễng. Cuối thu đầu đông, khu đồng chiêm mênh mông làng tôi chia khoảng phân vùng cho những ai đơm trúm đó để lấy tép.

Tép thì ít nhưng có lắm lắm niềng niễng. Tả ra thì khó. Nhỉnh hơn ngón tay cái. Đen bóng. Chắc lẳn. Béo mầm. Hình như nó cùng loài với cà cuống giờ đâm tiệt chủng?

Nghe chúng tôi nói tới cái giống niềng niễng ấy, bác Năm mắt sáng lên. Rồi bác bày cho cái cách nướng niễng hoặc đem rang lên mùi thơm bay xa hàng cây số. Bùi và đậm miệng.

Mùa bọ vừng là cả một sự hân hoan.

Cữ cuối tháng 4 âm lịch. Vừng sắp thu hoạch thì ở đâu cơ man nào là giống bọ vừng nần nẫn nhỉnh hơn đầu đũa túa về bám đen đặc, lúc lỉu trên những nhánh vừng.

Đêm xuống. Lũ chúng tôi theo chân bác Năm lần nhẹ ra ruộng. Khẽ lấy tay tuốt nhẹ. Cứ là hàng vốc. Đem rang cái thứ trời cho ấy lên. Ai đã từng nếm hẳn giờ lại than bao giờ cho đến ngày xưa? Mà lạ giống ấy giờ cùng bặt hẳn?

Một thứ nữa cùng tiệt nòi là cái con đam mồi. Đam mồi, tiếng vùng tôi chỉ cái giống cua to gấp đôi gấp ba con cua đồng. Giống ấy màu trắng hoặc sắc đỏ.  Cứ mùa mưa lại thấy lấp ló ở các cống rãnh.

Người vùng tôi kỵ, bảo bẩn không ăn. Nhưng thấy các cụ ở làng miền Nam tập kết nướng hoặc hấp (đồ) lên ngó rất bổ béo bắt mắt thì nhiều người cũng bắt chước.

Bác Năm tháo vát khéo tay không chỉ mang lại niềm vui bất ngờ cho lũ chúng tôi khỏa lấp cái dạ dày trống rỗng, háu đói kinh niên.

Vùng tôi có thứ thuốc lá Sóc Sơn sợi vàng nổi tiếng. Hồi kháng chiến chống Pháp không biết nghe ai và theo đường dây nào, Ủy ban huyện đã gửi một bọc mấy ki lô gam thuốc sợi vàng ra tận chiến khu Việt Bắc để biếu Hồ Chủ tịch!

Bác Năm tỷ mẩn lấy giống thuốc lá sợi vàng ấy gieo trồng ra một thửa riêng. Bác chăm sóc trồng tỉa thu hái theo cái cách của bác. Vừa làm bác vừa rủ rỉ kể cho chúng tôi nghe hay cho O Thoa, chả biết? Rằng bác quê tận ở Sa Đéc. Miệt ấy có giống thuốc lá sợi vàng gọi là Xiêm mẳn trồng trên đất giồng phù sa của sông Tiền sông Hậu. Bác nói do chưa biết  cách bón phân, cách ủ chế thuốc nên giống thuốc lá Sóc Sơn vốn nổi danh cũng chưa ngon đượm bằng thuốc Xiêm mẳn Sa Đéc.

Nghe vậy thì biết vậy.

Tôi ngoái sang O Thoa đương hờ hững khi nghe bác Năm hào hứng. Đã hơn 5 năm Dượng Thân biền biệt đi B. chả có tin tức gì. O Thoa người ốm tong teo, da dẻ sạm lại…

Nhưng việc thâm canh và chế biến giống thuốc lá sợi vàng Sóc Sơn theo cái cách của bác Năm Sánh đã bất ngờ giúp nhà O Thoa có thêm thu nhập. Bác Năm Sánh lại có mối cất thuốc lá của đám thương lái. Thuở ấy kêu là mua, bán chui.

***

Cả làng Ngãi. Rồi loang đến làng tôi, cái tin O Thoa có mang. Không có cuộc họp hành truy tầm  tác giả cái thai ấy là ai như lệ làng trước nay. Chỉ những sầm sì truyền miệng của các bà đi chợ về cái tin O Thoa có chửa. Rồi chuyện O ở cữ.

“Thằng cu rõ khéo khéo là”

Rồi mọi sự cũng qua và bặt hẳn khi cái tin Dượng Thân báo tử. Và tôi không mấy ngạc nhiên khi tác giả của cái thai, cha của thằng cu “ rõ khéo” chính là bác Năm Sánh hào sảng của chúng tôi!

… Tôi vô đại học thì thằng Sơn cũng đi bộ đội.  Mấy tháng sau Sài Gòn giải phóng, về làng thì đang dậy lên cái tin bác Năm khăn gói vuột Nam.

Rồi tiếp những xầm xì rằng chắc bác bỏ  lại mẹ con O Thoa rồi!

Nhưng khi ấy dân làng đâu có biết, vợ chồng bác đã bàn soạn. Bác Năm vào trước xem binh tình thế nào rồi sẽ ra đón hai mẹ con.

Tôi ngó O Thoa ôm thằng cu Thái khi ấy đã gần 6 tuổi vào lòng. Không hiểu sao cặp mắt O cứ  trống rỗng như ngày nào? Lại thêm cái tin thằng Sơn vô bộ đội, đi B. ít lâu rồi hy sinh.

Một dạo rõ lâu, tôi về làng thì được tin bác Năm đã ra đón mẹ con O Thoa vào. Ly kỳ hơn, lại được biết thêm trước khi tập kết bác Năm đã có vợ có con ở Sa Đéc.

May cả hai mẹ con lại lành lặn cả!

Kể cũng tài… Không hiểu bác Năm thu xếp ra sao mà hai mẹ con đã đồng ý cho chồng ra Bắc đón hai mẹ con O Thoa về Sa Đéc!

Lần ấy về quê tôi tạt qua chỗ làng Ngãi.  Đã bình địa từ lâu ngôi làng Tập kết trơ trọi khuất ở mé đồi. Những ngôi mộ của người bất đắc dĩ phải gửi nắm xương tàn nơi đất Bắc cũng đã được di dời đâu đó, chắc về quê?

… Tôi ngó lại những dòng trong cái Nghị định mà mình đã sưu tầm được.

“… Cán bộ, đồng bào miền Nam bị chết thì phải được chôn cất chu đáo. Tiêu chuẩn chôn cất gồm: 1 áo quan, 6 mét vải liệm, hương, nến, 1 vòng hoa, 1 tấm bia đá, tiền thuê người hoặc thuê xe tang (nếu ở thành phố) và một số các chi tiêu cần thiết khác.

Những khoản chi tiêu nói trên nếu anh chị em ở trong biên chế ở cơ quan xí nghiệp, công trường v.v… thì do ngân sách các nơi ấy đài thọ; nếu anh chị em tự túc ở địa phương thì do ngân sách Tỉnh, Thành phố đài thọ (mức tiêu về cứu tế xã hội).

Tài sản của cán bộ, đồng bào miền Nam chết để lại thì giao cho anh em hoặc bà con thân thuộc nhận. Nếu không có người nhận thì những vật không để lâu được như quần áo, chăn màn v.v… bán lấy tiền, còn những vật để lâu được như đồng hồ, bút máy, di chúc, vàng, nhẫn v.v… thì cùng với số tiền bạc gửi về cho Ban quan hệ Bắc – Nam trung ương quản lý để sau này giao lại cho gia đình người chết khi có hoàn cảnh.

Mồ mả của anh chị em ở địa phương nào thì do chính quyền địa phương ấy sửa sang và trông nom”

***

Tình cờ nhờ một người quen ở làng Ngãi mà tôi biết được tin tức cùng địa chỉ của bác Năm Sa Đéc.

Bao thứ mưu sinh bộn bề choán lấp. Quên thì chưa. Nhưng có phải bỗng chốc mà vuột đi được?

… Nhưng rồi dùng dắng mãi, tôi cũng có chuyến xuôi Nam. Và có dịp ngồi trong một căn nhà xây cất khá khang trang ở một làng quê miệt cù lao của sông Tiền sông Hậu. Thằng cu Thái ngày nào nay đã gần 60 vậm vạp, tóc muối tiêu, chủ nhân của một vườn nhãn rộng mấy công. Thứ nhãn tiêu da bò đặc sản mỗi vụ thu khá bộn bạc. Cái gien khéo tay lam làm của bác Năm truyền cho thằng con không gây tiếp giống thuốc lá sợi vàng Xiêm mẳn nổi danh một thời mà là giống nhãn nổi tiếng của xứ Sa Đéc Đồng Tháp.

Tôi nhẹ lòng khi thằng Thái cho hay, mấy năm trước nó đã đưa vợ cùng sắp nhỏ ( 3 đứa ) về thăm chơi làng Ngãi.

… Theo những sải bước của ông chủ, chúng tôi cùng khựng lại trước hai ngôi mộ xây cất bề thế có mái che theo tập tục của dân Nam Bộ.

Hai ông bà theo nhau mà đi. Bác Năm Sánh mất năm 1987. O Thoa mất năm 1997.

Bác Năm, O Thoa ơi!

(Còn tiếp)

XUÂN BA

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com