Một đàn heo rừng hàng chục con to hơn heo mẹ ào tới như thác bùn. Không cần nghe ngóng như con heo mẹ lúc trước. Đàn heo vừa tuôn vào liền ra tay ngay. Con nào con nấy bảo xục mõm xuống ủi bất cứ bụi mì nào cản nó và khi bật gốc chúng vừa nhai vừa phá. Heo mẹ no say liền dắt đàn con chạy biến, nhường cho lũ heo kia chiếm lĩnh mảnh rẫy béo bở thơm ngọt khoai mì này. Nó biết nếu ở lại thế nào cũng vì cái ăn mà choảng nhau không thương tiếc. Lũ heo con không phải là đối thủ của bọn này.

Chương 13 :
Beo và lợn rừng cùng chiến lợi phẩm trên cây
Không giống trên thảo nguyên đồng bằng khô hạn, chỉ có lũ giông cát chui lủi hay thỉnh thoảng lắm mới gặp bọn bò cạp chui ra giương càng chọc giỡn.
Ở miền sơn cước ngút ngàn xanh này với với đồng cỏ dưới chân đầy kỳ bí. Già làng Pinăng Khiên và anh Pi năng Chiến đều dặn dò kỹ lưỡng: phải chú ý đừng cho chúng chui sâu vào rừng. Nên cách xa bìa rừng để dễ canh vì nơi đây có đủ chó rừng, beo, bò tót, trăn núi và cả khỉ mặt đỏ tất cả đều có thể sát hại lũ súc vật nhà.

Một lần Thẩm với Len cùng Rốp đang ngồi vắt vẻ trên tảng đá gần nương sắn của làng. Len tính lấy kèn xaranai ra thổi thì từ bìa rừng có tiếng động lạ. Tiếng khụt khịt làm cả bọn giật mình lặng thinh nghe ngóng.
Thì ra đó là một con heo rừng mẹ. Răng nanh hai bên cong vếu đầy ngỗ ngược vênh váo chui vào rẫy. Đi sau một bầy con lúc cúc giống như các quả dưa sọc biết lăn. Mụ heo rừng xề này dẫn con vào rẫy sắn kiếm ăn ban ngày chứng tỏ rất đói. Chắc cả đêm nằm trong hang đất bị lũ “dưa sọc” này bú nhão ruột nên phải liều mình đi ban ngày kiếm ăn. Đáng ra thì lũ con phải ở lại hang nằm ổ cho mẹ đi kiếm ăn nhưng bọn nhóc này mới phổng nên bướng bỉnh. Chúng đòi theo mẹ để học nghề ăn trộm đây mà.
Thấy Thẩm với Rốp ngồi ngây ra như đất kinh ngạc. Lần đầu thấy thú hoang Len run rẩy thì thào :
– Mụ heo này bị cận thị nên không thấy gì thì phải. Mũi chắc dính đầy bùn đất nên không đánh hơi nên mới thế!
Thẩm mỉm cười. Tiếp tục nhìn heo ra sao. Lũ heo con bám đít mẹ ngơ ngáo với tiếng kêu eng éc như kèn lá chuối điếc. Ý chúng đang cằn nhằn mẹ nó rằng, vào đây thì có gì ăn ? Bởi chỉ có những thân mì khô khốc cứng chát thì sao nhá được đây ? Heo mẹ thản nhiên đi một vòng. Đuôi ve vẩy tự tin như một bà chủ đi thu hoạch. Nó dẫn qua hết gốc mì này đến gốc mì kia đầy thận trọng. Rồi mụ dừng lại bụi mì to chi chít cây vươn cao. Thẩm nghĩ nó sẽ ngoạm bẻ cây đổ xuống cho lũ con ăn đọt mì cho mà xem..Lũ heo con đứng quanh chờ đợi giống như Thẩm nghĩ. Heo mẹ đi vòng quanh chúi mũi khịt khụt rồi bất ngờ lùi hai bước chân, sục mõm xuống hốc đất. Cái mõm dài với hai răng nanh mất hút trong gốc mì rồi xốc lên như bị quả bom nổ: cả gốc mì đầy củ chi chít ném ngược lên trời. Một sức mạnh kinh hoàng làm ba đứa trẻ thấy chết khiếp. Nó cũng đã thấy cha mẹ ở nhà đào mì kéo mì nhưng chưa bao giờ thấy cả một bụi mì to bị ủi ngược như thế này. Heo mẹ ủi thêm chút đất để lôi các của mì sót rồi bắt đầu thưởng thức thành quả ăn cướp của mình trước đàn con. Nó ngoạm nhai rau ráu như máy xay. Miệng chọp chẹp khoái chí. Nhìn thấy mẹ ăn mì ngon lành, lũ con bắt chước nhào vào mỗi đứa một củ nhai nhâm nhi, mắt nhắm tịt sung sướng vì món ăn trộm thật ngọt ngào.
Đàn heo đánh chén một lúc đã thấy bụng từ mẹ đến con phưỡn căng như bong bóng bê bết đất. Càng sau chúng bắt đầu nhai ít đi nhưng lũ heo con bắt chước mẹ cứ tìm gốc sắn ủi phá chơi. Những cây sắn bị cắn bị đổ nghiêng ngả.
Nhìn thấy cảnh đó Thẩm nổi giận muốn đuổi lũ phá hoại này nhưng chưa kịp thì từ ngoài rừng có tiếng gì ào như bão. Cây cối đổ rào rào. Một đàn heo rừng hàng chục con to hơn heo mẹ ào tới như thác bùn. Không cần nghe ngóng như con heo mẹ lúc trước. Đàn heo vừa tuôn vào liền ra tay ngay. Con nào con nấy bảo xục mõm xuống ủi bất cứ bụi mì nào cản nó và khi bật gốc chúng vừa nhai vừa phá. Heo mẹ no say liền dắt đàn con chạy biến, nhường cho lũ heo kia chiếm lĩnh mảnh rẫy béo bở thơm ngọt khoai mì này. Nó biết nếu ở lại thế nào cũng vì cái ăn mà choảng nhau không thương tiếc. Lũ heo con không phải là đối thủ của bọn này.
Thẩm với Len, Rốp chết lặng kinh sợ trước sức mạnh của lũ heo hoang dại. Thẩm thì thào nói nhưng chẳng đứa nào nghe vì chỉ sợ lũ heo điên nhào tới đâm thủng bụng mình như chơi nên nén chờ cơ hội để chạy trốn bọn ăn cướp.
Lũ heo tung hoành ngang dọc biến rẫy sắn xanh biếc lúc nãy giờ tan hoang như bom, mà có vẻ chưa muốn dừng lại. Lũ heo điên như bị nhốt bao ngày sổ chuồng nên cứ gặp bụi nào trước mũi là ủi sạch đầy hung bạo. Không hiểu sao những cái mõm dài này lại cáu kỉnh trước các cây sắn hiền lành thế nhỉ ?
Len điên tiết hét ầm ĩ nhưng lũ heo ù đặc tai, điếc mũi mà mắt đầy bụi đất, cận trố mắt ra chẳng hiểu cái gì cứ thi nhau ủi xuống đất.
Thẩm tính nhảy xuống theo Rốp vào xua lũ heo nhưng Len can : Đừng có mà dại! Nó húc cho lủng ruột đấy ! Nghe nói đến hổ gặp bọn heo điên này cũng sợ đấy !
Trong lúc bối rối nhìn đàn heo điên khùng phá rẫy ầm ầm mà bất lực. Thẩm khóc òa vì sợ và tức. Bởi Thẩm biết sau trận này một gia đình nào của đồng bào sẽ đói đây ! Với bọn này gặp rẫy bắp thì cũng tan hoang !
Chợt đàn heo trở nên hỗn loạn hoảng hốt như đang bị loạt súng bắn hạ! Chúng chạy lung tung. Có con sợ hãi ngã nhào đầu xuống hố hay cuống cuồng làm bốn chân chỏng ngược lên trời.
Thì ra có bầy báo nhào tới. Nếu thường heo hung hãn điên cuồng biết chừng nào quyết liệt như thế nào thì giờ đây chúng trở thành bị thịt đần độn. Báo hoa! Có tới ba con cùng nhảy từ ba hướng nhào tới như tia chớp rực rỡ. Nhanh như chớp 3 con heo rừng bị đè ngửa cổ bị ngoạm chặt giãy giụa thảm thiết và tuyệt vọng. Lũ may mắn còn lại ôm bụng chạy mất hút vào ngàn xanh chỉ để lại mấy đứa xấu số kêu thét gào khóc, cổ đầy máu. Báo hoa mãnh thú xứ này thường bắt heo bắt khỉ như bắt gà con! Rồi chúng nhanh như chớp lôi xềnh xệch con mồi ngắc ngoải đi.
Cũng lúc đó ngoài bìa rừng một đám người chạy tới đó là già làng Cụ già Pinăng Khiên cùng dân làng cầm gậy gộc, giáo nỏ cả súng kíp nhưng tất cả lắc đầu tuyệt vọng!
– Giàng ơi là giàng ! Bọn quỷ sứ phá dữ vậy sao?
Mọi người lùng sục. Rồi một anh nói:
– Sao có vết máu nhiều quá Ama à ?
Già làng nhìn quanh rồi thản nhiên:
– À lũ beo báo cũng vừa tới để trừng trị quân ăn cướp này rồi.
– Ta đi theo xem có gặp con nào về xẻ thịt ăn A ma ?
Già làng gật đầu. Đoàn người rùng rùng đi theo các vết máu bám trên cỏ lá. Nhóm Thẩm cũng đi theo xem chuyện gì xảy ra. Con Luốc từ đâu cũng chạy đến. Từ sáng giờ nó canh đàn cừu dưới kia thay chủ. Thấy lâu liền hít hà mò tới. Nay gặp đoàn người tìm heo theo vết máu nó sướng rĩn lên. Việc này chỉ có nó mới xong. Len nói:
– Luốc tìm đi !
Con chó vùng lên mãnh liệt bỏ mọi người lần mò đi sau. Nó càng hít càng hăng máu vì lần đầu tiên nó được tham gia đi săn thú rừng nên vô cùng sướng.
Khi có viên trinh sát dũng mãnh tinh khôn nhập đoàn dẫn đường đoàn người khỏi cần dò dẫm như trước mà chỉ cố theo con Luốc! Đi tới đâu Luốc dừng lại ngã ba đường để chờ. Nó khôn không sủa ầm ĩ để đánh động con báo.
Chắc do lôi con mồi to nặng nên chỉ một chốc con Luốc đã bắt được mùi con mồi phía trước nên đuôi nó vẫy rối rít như cờ trận sắp chiếm cứ điểm. Già làng tuy có tuổi nhưng dáng chân vẫn mạnh mẽ bước rất đều chẳng thua kém trai làng.
Chỉ một thoáng con Luốc đã sủa dồn dập như pháo nổ!
Nó đứng trước một gốc cây săng già cao vút. Chồm chân lên gốc cây nghếch mõm sủa chan chát. Len nhìn thấy nổi cáu vì nghĩ con chó này điên hay sao mà đứng dưới gốc cây cổ thụ sủa. Chả nhẽ trên đó có mồi ?
– Tới rồi ! Tới rồi !
Già làng chạy tới xoa đầu con Luốc như cảm ơn. Ông nhìn lên cao gật gù vui mừng.
– Con báo leo lên cây à Ama ?
– Đúng thế !
Già đưa bàn tay hứng giọt máu tươi nhỏ xuống rồi chỉ :
– Trên đó !
Mọi người đều hiểu khi nhìn vết xước vào thân cây cùng vệt máu heo bết vào. Ai cũng lúng túng chưa biết tính sao với hoàn cảnh lạ lùng này! Nhìn lên thì không thấy con báo hay con heo đâu ?
Luốc như chợt hiểu. Nó chồm, chạy quanh cây sủa dữ dội rất điên. Nó chạy tới chạy lui, mõm hướng lên cao sủa. Giá nó biết leo như mèo thì chắc chắn nó sẽ trèo lên đánh nhau với con báo.
Trước sự dũng mãnh của con Luốc. Chỉ một loáng có bóng con báo nhảy vụt sang cây khác mất hút. Nó sợ con chó và đoàn người dưới gốc cây vì nếu bám lỳ thì chắc chắn ăn phát đạn hay phát nỏ thì toi đời nên tinh khôn nhất là bỏ mồi chạy tháo thân.
– Ta lên được rồi đó các con !
– Con báo chạy đi rồi à A ma ?
– Đi rồi ! Lên đem con heo rừng về !
Mấy trai làng hăm hở leo lên cây săng. Không ngờ con báo khỏe thế, với bản năng của loài thú leo cây. Hễ bắt được mồi nó đều tha lên chạc cây để ăn dần. Chứ để dưới đất thì bị bọn chó rừng, cáo, và cả cọp nẫng mất.
Từ trên vòm cao có tiếng vọng xuống:
– Ama thấy rồi! Thấy rồi ! Con thả xuống nhé !
Mọi người dạt ra xa để cho từ trên vòm xanh rơi ầm con heo rừng chết. Nó to hơn một vòng tay ôm vậy mà con báo tha tít lên đó thì dễ sợ thật. Thẩm lắc đầu ái ngại. Lần đầu tiên nó biết sức mạnh của heo rừng và báo.
– Thôi đành vậy ! Ta vốn không muốn cướp miếng ăn của chúng mày nhưng bọn heo rừng có tội lớn quá nên đành phải đem nó về xẻ thịt cho hả giận.
Hai chàng trai hì hục cắt dây rừng làm cái gánh khiêng con heo chiến lợi phẩm về làng.

Chương 17:
Về làng ăn Kate
Thẩm với Len và Rốp về Palei (làng). Khắp nơi rộn rã tiếng cười vui. Trên những con đường đất trẻ em, phụ nữ mặc Dwabong(áo dài Chăm), quấn khăn Khan Chrah bo đủ màu sặc sỡ. Ai cùng tíu tít ra sân vận động xem múa hát, lên đền tháp xem rước Y trang và cúng các Po (thần-vương). Cả Pailei bé nhỏ hay trên mọi Cham Pangdurangga (miền Chăm) đều âm vang Ka tê.
Người Chăm xưa có hơn trăm cuộc lễ trong năm. Nay chỉ còn những lễ lớn như lễ Rija Nưgar (năm mới) diễn ra vào đầu năm lịch Chăm vào tháng Tư Dương lịch, vì vậy còn gọi là Lễ tẩy trần tháng Tư, lễ Ramưwan (tháng ăn chay)với người Chăm Bani- đạo Hồi. Lễ Ka tê là lễ của người Chăm Bà-la-môn theo Ấn Giáo của Thẩm và Len.
Katê tuy của người Chăm Bà –la – môn nhưng đã trở thành lễ hội chung và là lễ lớn nhất cho cả cộng đồng người Chăm cả hai giáo phái. Thế nên thằng Rốp tuy theo Chăm Bà ni nhưng cũng vui ra mặt với Thẩm và Len.
Ông Irasara vốn là tri thức của làng Chăm theo Bà –la-môn nên ông thấu hiểu tình cảm của những người con xứ mình nên đã nhắn nhờ rằng ba đứa sẽ về làng chơi Ka tê ba ngày. Trước đó khi Thẩm đến thăm già làng Pinăng Khiên đã thấy già cùng mấy trai làng đang ngồi chùi giàn mã la( chiêng nhỏ) đen bóng vốn treo trên vách nhà. Đem cả sara ken (khèn bầu) ra thử hơi cùng đàn chapi thì Thẩm thấy ngỡ ngàng không biết chuyện gì. Già Pinăng cười vui nhìn chị Chemalia Thuyn như muốn nói: “Con nói đi !” Chị Thuynh má hồng mắt long lanh như sương sớm. Chợt có tiếng một chị đứng gần đó mà Thẩm không biết tên.
– Nó sắp về tháp để gặp chàng đánh trống paranưng đẹp trai đấy !
Chuyện là thế này, theo phong tục của Ka tê. Thì sáng ngày hành lễ ở tháp Po klaung Gilai (Poklong Grai) sẽ có lễ đón rước Y trang (Hoàng bào) của Po ( ngài) từ làng người Raglai giữ về tháp chính làm lễ cúng. Bởi theo truyền thống trăm năm qua thì đồ dùng của vua Chăm mà sau này hiển thánh đều thành báu vật linh thiêng. Những vị vua anh minh này được hậu thế xây tháp để tưởng nhớ họ. Như tháp đây do vua Shihavanma (Chế Mân) xây thờ Po klong Grai vào cuối thế 13 đầu thế kỷ 14.
Hoàng bào của vua Poklong Grai cùng vương miện, thiền trượng rước từ làng Raglai trước về làng Chăm Mỹ Đức rồi mới đưa đến tháp đúng sáng sớm của chính lễ Ka tê. Đi theo đoàn có các bô lão, trai làng Chăm cùng già làng, trai tráng người Raglai… các thiếu nữ xinh đẹp trẻ trung của làng đều được đi đám rước. Bởi họ khi lên tháp được tham gia hát múa mã la, thổi kèn sara ken. Thanh nữ Raglai được múa cùng thiếu nữ Chăm trên nền tháp. Chính ở đây chị Thuynh đã thầm nhớ đến một anh gõ trống baranưng. Gương mặt anh rắn rỏi. Mắt đen vời vợi như rừng chiều thăm thẳm. Tiếng trống sôi nổi của anh đã làm chị Thuynh hóa thành ngọn lửa dưới bầu trời xanh của tháp. Sau lễ, anh ý có tới khen chị và xin số điện thoại để làm quen. Đó là mùa Ka tê trước mà chị Thuynh ngẩn ngơ không muốn rời tháp sau lễ. Khi anh dẫn chị đến gặp mẹ mình. Bà mẹ phúc hậu ngồi chân tháp cúng thần cùng các mẹ khác. Lúc giới thiệu, mẹ anh mở cái Ciet (giỏ) đan bằng mây vàng óng đựng rất nhiều bánh taipei bilik ( bánh ít), taipei anung(bánh tét), Sakaya ( bánh trứng), giraong laya ( bánh gừng)…Mẹ trò chuyện với cô thiếu nữ Raglai khen đẹp và đưa tặng cho rất nhiều quà bánh làm lòng Thuynh ngân nga hạnh phúc:“Vầng trán quê đã gõ cửa chưa ? Mà mảnh đất em toan ửng hồng đôi má. Con tim hối hả theo nhịp chân quen. Xin hãy một lần để cơn gió nồng tràn ấm giấc mơ đôi.” (thơ Kiều Maily). Đấy chuyện của chị Chemalea Thuynh là vậy đấy nên chị mong tháng ngày để về tháp dự Kate.
– Thế năm nay anh ấy có còn đánh trống baranưng không ?
Chị không trả lời nhưng má hồng lên rực rỡ. Ánh mắt nhìn về đồng bằng rực nắng xa xa nơi có ngọn tháp đỏ hồng như trái tim chị.
Nghe chuyện của người chị gái mà mình quý, Thẩm cũng thấy xao xuyến. Cô nhớ đến tới tiếng kèn Saranai thánh thót của anh Kiệt trong làng mình. Cũng tiếng kèn đó nhưng không rợn hay xé lòng như các ngài thầy cúng khi tiễn người về Kut Gơp Gadak (Nơi thờ cúng người Chăm đã khuất ) hay huyền ảo của lễ cúng thần linh. Tiếng kèn của Kiệt trong veo, dào dạt và réo rắt đến nhói tim mỗi khi được nghe. Không biết năm anh Kiệt có về làng với Kate không ? Nghĩ đến đây, Thẩm đỏ bừng mặt. Bởi trong lòng cô, điều ước là anh Kiệt về với Thẩm và Ka tê cơ. Nhưng chắc anh ấy vẫn vô tư, trong veo như tiếng kèn của mình không biết rằng có cô bé nghèo ở làng đã dạt dào xao nhớ đến mình như tàn me chao đón gió chiều.
Ông Irasara đã nhờ anh Chiến cùng mấy người Raglai đóng trại, thả cỏ rau và lá cho lũ dê ăn tại chỗ để ba đứa về làng ăn Kate. Thẩm rướm nước mắt gọi điện cho mẹ biết. Qua điện thoại nghe được tiếng thằng em reo mừng, cả tiếng con Cuốc rĩn lên sung sướng. Mẹ chỉ ừ à nhưng Thẩm biết mẹ đang nghẹn ngào chấm nước mắt khi đó con gái đi biền biệt mấy tháng suốt mùa khô. Sau Kate chắc đàn gia súc cũng về đồng cỏ quê nhà. Vì mùa mưa cũng đã về, khắp nơi đang xanh tươi trở lại. Mẹ ra vườn nhìn vạt măng tây xanh mởn háo hức. Sẽ nấu gà, thịt trâu để con bé ăn “Tết Ka tê làng” rồi cùng nhau đi tháp. Mẹ đúc bánh thuẫn trứng gà cho nó ăn…ôi cả ngôi nhà bé nhỏ rối tít đến cuống cả chân tay. Con Cuốc ngạc nhiên cứ chạy ra chạy vào rồi vụt ra sân đứng trên mô đất hay nhảy lên đống củi ngắm qua rặng xương rồng chờ đón chị Thẩm về nhà…
Thẩm về đến nhà chủ bằng xe đón nên mẹ không kịp đến. Tiện xe máy ông chủ cho chở Thẩm thẳng về nhà.
Ôi ngôi nhà vách đất đơn sơ sau bao tháng ngày nay tối thẫm lại trong nắng chiều lụp sụp như lưng mẹ. Thằng Liêu cùng con Cuốc nhảy xổ ra ôm chầm lấy Thẩm. Mẹ từ trong bếp lụi cụi bước tay choàng lại tấm khăn Aban màu nâu đã bạc phếch. Nước mắt mẹ ứa ra rồi ràn rụa như không dừng lại được làm Thẩm cũng chứa chan theo. Chỉ thằng Liêu đứng trố mắt không hiểu sao mẹ với chị khóc nhiều thế ? Con Cuốc chẳng hiểu, nó hít hà rồi lủi ra góc sân ngó nhìn chủ nhân. Mãi Thẩm mới lấy trong túi ra gói bánh cho em và bẻ một cái cho con Cuốc. Mấy con gà con líp chíp chạy tới quấn chân trông thật là thương. “Tí nữa tao sẽ tấm cho mày ăn nhé !” Nói tới mấy lần bọn gà con mới chịu hiểu bỏ đi nhưng chúng vẫn ngóng chờ ở góc rào.
Đó là “Kate đoàn viên” mà người Chăm đều nói đến. Cũng như tết người Việt, dịp này mọi người con dân tộc Chăm xa gần đều về làng nơi có những ngôi nhà Thang Tông Jaka bé nhỏ mộc mạc giản dị mà ấm nồng hương trầm thơm ngát. Mùa Kate rộn vui đến vạt xương rồng cáu kỉnh cũng nở ngát hoa. Tagalau( bằng lăng ) thì tím biếc trên mọi nẻo đường.
***
Sáng tinh mơ. Hoa ngũ sắc, hoa xương rồng còn đọng sương. Những con cuốn chiếu nâu bóng vẫn cuộn tròn ngủ trong bụi đất thì ba mẹ con đã đến tháp. Đội Ciet (giỏ) đựng đầy đồ lễ cúng Po, mẹ vui lắm. Sáng sớm mở rương lấy cho con gái và cả mình bộ Dwabong (áo dài ) thơm mùi vải mới mà lòng ríu rít vui. Dù không có hoa văn Hơng, Arut hay Het quý phái nhưng những chiếc dải lưng, khăn đội đầu choàng vai với hoa văn bình dân giản dị Biyon haraik vẫn làm cho Thẩm rực rỡ của thiếu nữ xuân thì. Nhìn con gái xinh xắn khăn áo đi hội, mẹ Thuận thấy lâng lâng và đôi chút tự hào. Mong sớm có ngày nó đón rể về cho mẹ và em.
Lễ rước y trang (Rauk khan aw pô Yang) rộn ràng tưng bừng từ xa làm cả đồi tháp chộn rộn. Các thanh niên trai tráng người Chăm cầm cờ, cầm liễn rực rỡ khiêng kiệu thiêng đi về tháp chính. Theo sau kiệu là các bô lão râu bạc, quấn khăn đỏ chót, tay chống gậy. Nhóm già làng người Raglai đóng khố mặc áo thổ cẩm cùng trai tráng tháp tùng. Đó là phong tục đưa đến nơi về đến chốn y trang thiêng liêng của đức vua Poklong Grai.
Khi kiệu đến sân tháp thì thầy Po Dhya (cả sư) khấn xin mở cửa tháp (Pơh băng yang) bằng việc té nước lên bức phù điêu thần Shiva trên cửa tháp; Muk Pajaw (bà bóng) cùng thầy Kadhar thực hiện các nghi lễ: lễ tắm tượng thần (Mưnay Yang),và lễ thay y phục cho ngài (Angui khan aw Yang) và đại lễ (Mưliêng Yang). Bên ngoài tháp các thầy Kadhar kéo đàn kanhi, hát thánh ca ca ngợi công trạng của đức vua.
Mẹ con Thẩm cùng dân làng kính cẩn bày đồ lễ ở quanh tháp chính để cúng thần và cầu mong điều mình ước nguyện. Khác với dân tộc Kinh và các dân tộc khác người hành hương dâng lễ sẽ tiến vào chánh điện của điện – đền để tiến cúng lễ vật. Thì người Chăm theo quan niệm, chốn hậu cung đền tháp là chốn linh thiêng chỉ thờ cúng thần linh và các vương thượng được thánh hóa người dân không được vào dù để dâng cúng hay bái tạ.
Đồ cúng tế trên tháp trong lễ Ka tê bao gồm: thịt dê, gà, trái cây, bánh, rượu, trầu cau. Riêng bánh có bánh tét dài (đòn) tượng trưng cho Linga (dương thực khí) và bánh Tét Nak tượng trưng cho Yoni (âm thực khí) và bánh Sykara – tượng trưng cho thần tối cao Shiva.
Việc bày cỗ cúng theo quy tắc rất Chăm : Thịt dê tế luộc chặt miếng xếp theo đối xứng âm dương, thịt gà hướng đầu về phía trước, bánh trái hoa quả theo thứ tự và sắc màu thật hài hòa âm dương. Tuyệt đối không sử dụng thịt bò vì theo đạo Bà-la-môn bò là con vật linh thiêng vì thần Shiva cưỡi bò thần Napil. Theo quan niệm thì tất cả không gian trời đất của đền tháp đều linh thiêng nên người hành hương có thể bày cỗ cúng khắp nơi quanh tháp. Để giúp thần linh thấu hiểu, sẽ nhờ thầy cúng từ cao cấp như sư cả Kahdar hay thầy Mukpajau giúp cho những bài kinh huyền bí.
LÊ ĐỨC DƯƠNG


