Nhà văn Vũ Quốc Khánh sinh ngày 15.6.1950, quê gốc ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên nhưng theo gia đình lên khai hoang ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Khi học đến năm thứ 5 Trường Đại học Nông nghiệp I thì ông nhập ngũ và trở thành bộ đội địa phương Tỉnh đội Quảng Nam Đà Nẵng. Đất nước thống nhất ông ra quân về học tiếp trở thành giảng viên khoa Cơ điện Trường Đại học Nông nghiệp I, rồi cán bộ quản lý, Giám đốc Công ty Chè. Từ năm 2005 ông chuyển sang làm Giám đốc Công ty xây dựng và bắt đầu sự nghiệp sáng tác.

Vũ Quốc Khánh trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam sau khi truyện ngắn đầu tay của ông gây được sự chú ý, được lựa chọn đọc trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya” của đài VOV và tiểu thuyết đầu tay “Seo Sơn” của ông được trao giải Ba cuộc thi Tiểu thuyết lần thứ IV của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ đó đến nay các tiểu thuyết của ông liên tục được trao các giải chính thức của Hội Nhà văn, của Hội VHNT các DTTS Việt Nam, của cuộc thi Cây bút vàng Bộ Công an. Điều đó khẳng định vị thế và thương hiệu của nhà văn Vũ Quốc Khánh trong đội ngũ những người viết văn ở Phú Thọ.
Vốn sống có được trong chiến tranh cách mạng, sự trải nghiệm trong nghề nghiệp kỹ thuật và quản lý, tình yêu cuộc sống sâu đậm đã gắn kết mối quan hệ giữa xã hội và văn chương, kèm theo năng lực học hỏi trong sáng tác tiểu thuyết đã tạo cho nhà văn Vũ Quốc Khánh những thế mạnh không dễ gì người khác có được.
Văn phong Vũ Quốc Khánh chân chất, giàu cảm xúc; dễ đọc và đọc cuốn hút, đầy sự lịch lãm, tế nhị sau trước, khiến đã mến văn lại cảm thêm người.
Vanvn.vn trân trọng trích giới thiệu đến bạn đọc tiểu thuyết Phía sau trận chiến của nhà văn Vũ Quốc Khánh.
Chương X
… Mưa tầm tã đã mấy hôm. Dòng sông Thu ngầu đỏ phù sa, dâng nước lên ngập bờ trên, bãi dưới. Con đường thường ngày gùi hàng vẫn đi qua giờ chìm trong nước. Hón bồn chồn, lòng dạ không yên. Hàng mua về, tập kết ở các kho không chuyển về cứ được. Không cẩn thận, tạnh mưa, địch tổ chức vây ráp, phát hiện ra thì gay to. Mọi người trong nhà ông Năm mỗi người một việc, hoặc giúp người này sửa nhà, hoặc giúp người kia dọn vườn cây đổ. Chỉ còn mình Hón trong căn nhà vắng ngơ vắng ngắt.
Ngoài kia dòng sông Thu đục ngầu, mênh mông ngút mắt. Có con thuyền nhà ai nhỏ nhoi trong sóng nước đang từ bờ Bắc chèo sang. Bất giác, Hón nhớ lại ngày anh bị lũ cuốn. Anh nhớ mệ Hai, nhớ em Miên đã không quản hiểm nguy cứu anh thoát chết. Giờ này không biết mệ đang làm gì trong mưa bão?
Mưa ở miền Trung sợ thật, cứ kéo dài ra như không bao giờ dứt!
Hón bỗng nhớ đến bầm Hón ở nhà. Nhớ những ngày mưa ngâu tháng bẩy, bầm ngồi cần mẫn vót những nan cật giang để đan những chiếc ráng xinh xinh, những chiếc ớp đựng đồ hoặc kíu những ráng bông tách hạt ra khỏi múi để thợ bật bông đến bật chăn. Không biết năm nay sức vóc bầm thế nào, căn bệnh thấp khớp kinh niên có hay hành hạ bầm khiến chân bầm đau nhức? Hón đi xa, Mậu và Lèng có thường qua lại động viên thăm nom bầm cho Hón? Bản Mẫn của Hón năm nay lúa má có tốt không? Thóc hợp tác xã cho bầm liệu có tằn tiện đủ ăn? Bao nhiêu câu hỏi đan qua, đan lại trong đầu Hón mà không sao có được câu trả lời.
Nhiều lá thư gửi đi mà không có một lá nhận về. Chiến tranh như con quái vật nuốt hết mọi thứ, đẩy mẹ xa con, đẩy anh xa em, đẩy vợ xa chồng, đẩy Hón xa những người thương yêu, xa bản Mẫn không biết ngày nào trở lại.
Ngồi một mình thơ thẩn trong mưa, Hón lại nhớ những ngày đầu mới từ đơn vị trinh sát chiến đấu được điều động về đại đội vận tải này.
Bỡ ngỡ.
Chân ướt, chân ráo.
Choáng.
Hón như rớt từ ngọn cây xuống đất. Bao ước mơ vượt Trường Sơn đi đánh Mỹ thế là tan thành mây khói. Vừa ngày hôm qua đang là lính trinh sát của Trung đoàn thiện chiến Núi Thành, Hón và đồng đội tả xung hữu đột tiêu diệt căn cứ Hiệp Đức. Thế rồi được bổ sung về tỉnh đội. Hón hy vọng vẫn sẽ được đầu đội mũ tai bèo, vai đeo AK xung phong vượt qua những hàng rào dây thép gai, lùng sục vào các công sự hầm ngầm tiêu diệt giặc. Thế mà giờ chẳng thấy được chiến đấu đâu, chỉ thấy suốt ngày đi gùi hàng, ngày này sang ngày khác…
Mà sức gùi của con người cũng đến lạ. Nhìn thấy các chiến sĩ nam nữ nhỏ bé đứng bên cạnh các gùi hàng to hơn cả người mà Hón phát khiếp, có lẽ đến hàng tạ chứ chẳng chơi! Hón lấy hết sức để vần gùi hàng mà chỉ thấy hơi nhúc nhích. Ấy thế mà anh chị em cứ gùi đi bình thường. Hón sợ quá, mình mà gùi cái gùi hàng kia chắc không những không gùi được mà còn bị nó đè dúi xuống bẹp dí đằng khác.
Như hiểu được tâm trạng của Hón, đại đội trưởng Bẩy Tiền ân cần chỉ bảo:
– Hón đừng lo, ai ban đầu cũng sợ thế cả! Muốn gùi được cả tạ hàng phải biết vận dụng sức của toàn bộ các cơ bắp trong người. Bình thường nếu Hón gánh năm mươi kí thì chỉ có một vai Hón chịu sức nặng của nó. Không những thế sức nặng ấy chỉ đè lên phần cơ rộng chừng ba đầu ngón tay mà đòn gánh đè trên vai thôi. Đúng không?
Dừng lời một lát như để cho Hón hiểu hết lời mình nói, Bẩy mới nói tiếp:
– Nếu ta gùi trên hai vai, quai gùi ít nhất có vị trí áp lên các cơ ở vai, ở lưng và cánh tay lớn gấp sáu lần vị trí đòn gánh đè lên vai khi gánh. Như vậy nếu gùi năm mươi cân sẽ cảm thấy nhẹ hơn rất nhiều so với gánh.
Hón thử gùi thì quả như vậy, nhưng gùi cứ như muốn vít người về phía sau. Ngày đầu đi gùi về người đau như dần, chân rồi vai bỏng rát, rộp nước. Bẩy Tiền ân cần hướng dẫn cho Hón cách đóng gùi sao cho gọn nhất, kéo trọng tâm gùi hàng dịch về phía trước, rồi cách khom người để giữ trọng tâm gùi hàng rơi vào gót hai bàn chân đồng thời để lưng gánh bớt một phần trọng lượng đỡ vai. Đây là cả một kinh nghiệm được chắt lọc ra từ thực tiễn gùi hàng mà những người Pa Kô, Vân Kiều nằm sâu trong đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ đã đúc rút nên. Bẩy cũng chỉ bảo cho Hón cách pha nước muối ấm để ngâm chân, đắp vai cho da mau chai, không bị vỡ mụn nước, đỡ phồng rát.
Giá như ở nhà đi gùi nặng như thế này thì hôm sau bầm sẽ bắt Hón phải nghỉ. Nhưng ở đây Bẩy Tiền không cho Hón nghỉ, Hón vẫn phải gùi như hôm trước. Lại ê ẩm hết cả người, lại phồng da mọng nước. Bẩy lại pha nước muối ấm cho Hón ngâm chân, bóp vai.
Cứ thế suốt cả một tuần, cả hai tuần. Cuối cùng thì Hón cũng quen việc lấy cân bằng trọng tâm, nâng gùi lên là ổn định tư thế đi đứng. Không những thế da chân, da vai cũng thành chai, không phồng rộp nước nữa.
Bẩy còn hướng dẫn cho Hón đóng gùi cao lên để khi gùi một phần hàng sẽ áp lên đầu, rồi làm thêm quai đeo lên trán để tăng khả năng gùi. Vị trí buộc quai trên gùi hàng để sao cho phân bổ được một phần trọng lượng hàng lên đầu, lên vai người gùi, đến bản rộng của dây gùi sao cho hợp lí đều được Bẩy hướng dẫn chi tiết.
Thế là trọng lượng của gùi hàng gần trăm ký đã được Hón phân bổ lên toàn bộ cơ thể, lưng một phần, vai một phần, đầu trán một phần, nơi nào cũng có phần của nơi ấy. Lại còn cây gậy chống nữa. Nó cũng chia sẻ với con người những nặng nhọc của người lính vận tải. Hón đã trở thành một chiến sĩ gùi hàng thực thụ như mọi chiến sĩ gùi hàng trong đại đội vận tải này.
Hón thầm biết ơn Bẩy Tiền đã tạo cơ hội cho Hón làm quen với công việc. Có những lúc Hón cũng cảm thấy khó chịu vì tính nghiêm khắc của Bẩy, nhưng rồi qua sự chăm lo của Bẩy, Hón đọc được ở đấy cả một sự quan tâm chân thành hết mực mà Bẩy dành cho Hón. Hình như ngoài tình đồng đội, Bẩy còn dành cho Hón một tình cảm gì thiêng liêng, cao quý hơn. Và sau buổi tránh Thái Bình hôm vừa rồi dưới căn hầm nhà ông Năm thì Hón càng hiểu rõ tình cảm đó, một tình cảm mà không dễ gì ai dám nói ra, nhất là đối với Bẩy Tiền.
Tự nhiên Hón bỗng nhớ đến Mậu, một nỗi nhớ da diết cồn cào. Hón nhớ nụ hôn ngọt ngào đầu đời với mối tình bỏng cháy của người con gái vừa bước vào lứa tuổi biết yêu mà Mậu đã dành cho anh. Bên tai Hón vẫn văng vẳng câu hát xẩm hôm nào mà Lèng đã cất lên. Câu hát không buồn và cũng chẳng vui, hình như là một lời man mát trách cứ và ai oán:
Đời người có mấy ước mơ
Chàng mơ chinh chiến, em mơ bóng chàng.
Hón tự hỏi mình bây giờ Mậu đang làm gì ở quê hương bản Mẫn thân yêu?
***
Hón đang miên man với bao nỗi nhớ quằn quại trong lòng thì Chín Hạnh về. Hóa ra con thuyền vượt sông Thu mà Hón vừa nhìn thấy là thuyền của Chín. Bất giác Hón chợt lóe ra ý nghĩ, vội bảo:
– Này Chín, hay mình dùng thuyền chở hàng lên Tam Cốc?
– Em cũng nghĩ đến, nhưng ngặt nỗi bọn bảo an đóng ở điền trại Phú Tam xăm soi đoạn sông ấy kĩ lắm, mần răng mà qua được hè.
– Thì nhổ nó đi mà qua! Nếu vận chuyển được bằng thuyền thì đỡ bao nhiêu là công gùi. Mỗi thuyền chở ít nhất cũng bằng bốn năm người gùi chứ ít đâu.
– Nhưng nhổ mần răng chừ? Du kích mình lực mỏng, bộ đội đằng mình thì ở xa…
– Anh nghĩ nhất định mình phải tìm ra cách. Phải đánh địch từ trong lòng địch. Phải xây dựng hệ thống cung ứng hậu cần cho bộ đội từ trong nhân dân vùng vựa lúa này mới bền chặt. Không gì an toàn và vững chắc bằng thế trận lòng dân. Tình thế cách mạng giờ đang thay đổi. Không thể chỉ giữ nguyên nếp cung ứng theo kiểu tập trung về kho trung tâm rồi phân cấp cho các đơn vị mãi thế được nữa.
Dừng một lát như để lấy hơi, Hón bộc bạch tiếp:
– Cần xây dựng một mô hình dự trữ tổng hợp cả ở tổng kho và ngay ở trong dân vùng tạm chiếm. Nếu được thế, khi cần ta có thể vừa huy động nhanh, vừa an toàn, theo kiểu đánh địch ở đâu huy động ở đó. Mỗi nhà dân giữ cho bộ đội vài tạ gạo, đôi tạ gạo sấy thì cả Hà Tam này có dư sức vài trăm tấn. Chỉ cần mở thông đường bộ, đường sông vận chuyển là khi cần ta có thể cung cấp ngay cho bộ đội các nơi mà không cần mở rộng các kho tập trung, tránh tổn thất khi địch thả bom, bắn pháo.
– Ừa nhỉ, anh tính giỏi ghê ta! Vậy làm sao mình triệt được cái đồn bảo an, mở lối vận chuyển hàng anh hè?
– Anh tin rồi mình sẽ có cách.
Hai người đang đăm chiêu thì Bẩy Tiền người ướt như chuột lột dẫn y tá Liên cùng mấy chiến sĩ nữa đội mưa xăm xăm bước tới.
Hóa ra ở nhà, Bẩy cũng sốt ruột không kém. Bộ đội đã bị giảm khẩu phần ăn xuống còn một nửa đã mấy ngày nay. Không thông được tuyến đường này thì sự chi viện hậu cần cho tỉnh đội sẽ ách tắc, bộ đội còn đói nữa. Cả tỉnh bây giờ đâu đâu cũng ngập. Mà ngập thì chợ búa không họp được. Không ai nghĩ mưa cuối mùa lại dai như đỉa đói thế. Các cung đường vận chuyển từ quân khu xuống đều tắc nghẽn, bộ đội chủ lực cũng trong tình trạng đói ăn huống chi bộ đội tỉnh. Hàng mấy nghìn người biết trông mong vào đâu trong lúc cuối mùa giáp hạt này?
Không thể để tình trạng này kéo dài. Bằng cách nào cũng phải mở được đường lên núi. Bộ đội đang chờ. Phong, Chín Hạnh, Tư Thới, Miên, bà Hai được mời gấp về họp tại nhà ông Năm Long.
Từ hôm được bà Hai và Miên cứu, mặc dù về Hà Tam có đến cả tháng nhưng Hón chỉ hỏi thăm được bà qua Miên và Chín mà chưa sang Bắc Hà Tam thăm bả được. Có lẽ cũng bởi vì công việc ngập lút đầu lút cổ, nhưng cũng còn bởi vì Hón e gặp đồn trưởng Thái Bình bất chợt về nhà.
Bà Hai Thái Bình gặp lại Hón thì mừng lắm. Không hiểu sao bà rất quý chàng trai người Bắc này. Có lẽ Hón làm bà nhớ lại nơi quê xa chôn rau cắt rốn của bà. Thấm thoát bà vào đây sinh cơ lập nghiệp cũng đã hơn hai mươi năm, từ ngày đầu còn xanh, tuổi còn trẻ. Hình ảnh quê hương với những triền đê dài dọc hai bờ con sông Luộc mầu mỡ phù sa, với những cánh đồng đay trải dài ngút tầm mắt vẫn nôn nao trong bà. Người mẹ già, trước lúc nhắm mắt xuôi tay thều thào dặn hai chị em bà ráng đùm bọc rau cháo nuôi nhau cho qua đận đói năm nào còn in đậm trong tâm khảm bà. Rồi hình ảnh người chị khắc khổ vẫy vẫy cái nón mê khi đưa tiễn bà theo chồng vào đây sinh cơ lập nghiệp cũng cứ đi về trong lòng bà, bất chấp nắng mưa gió bão.
Mọi người chụm đầu bên nhau, bàn cách mở đường thông tuyến từ Hà Tam lên căn cứ để cung cấp gạo cho bộ đội. Nghe Hón nói muốn dùng thuyền chở quân lương nhưng chưa nghĩ ra cách gì để lọt qua trạm Phú Tam, mọi người ai cũng băn khoăn suy nghĩ.
Chợt bà Hai vỗ hai tay vào nhau đánh roẹt:
– Mệ nghĩ ra cách rồi!
Mọi người xúm lại:
– Cách chi mệ?
– Ngày kia là ngày giỗ ông Hai, mệ sẽ làm mấy mâm cơm cúng ổng, rồi kêu tụi bảo an đóng ở điền trại Phú Tam qua nhậu. Bọn ni sợ Thái Bình chắc không thể không đến. Em Miên và Chín Hạnh phụ giúp mệ sẽ căn giờ gà lên chuồng mới rước bọn ni vào bữa. Khi đó thuyền mình cứ thế kéo qua, chắc là êm ru hà.
Ông Năm Long cũng cho là phải. Ông bảo:
– Hôm đó, tui cũng sang thắp hương cho ảnh và xin dùng chén rượu giỗ ảnh giữ chưn bọn lính để anh em mình vượt sông cho êm thấm.
Bẩy Tiền cùng Hón và Phong xáp vô chỉ đạo theo ý mệ Hai và ông Năm, một mặt lấy việc theo dõi kĩ động tĩnh của tụi lính ngụy làm trọng, mặt khác bố trí du kích Hà Tam và đội công tác tăng cường của Phong tập trung hỏa lực bám sát khúc sông đó. Yên được thì tốt nhất, nếu địch có động tĩnh gì là xử lý êm lẹ, hỗ trợ cho đoàn thuyền nhanh chóng vượt sông.
Dù sao trong lúc cấp bách này, kế sách đó cũng coi là hợp lý hơn cả. Nhưng xét cho cùng, đó chỉ là cách thức giải quyết trước mắt để cứu đói cho bộ đội chứ không phải là cách thức lâu dài. Cách thức lâu dài là phải làm sao vô hiệu hóa cái đồn bảo an này theo hướng mà Hón đã có suy nghĩ.
Tối hôm giỗ, tổ công tác của Phong và ba chiến sĩ trong đội du kích Hà Tam do Tư Thới phụ trách đã áp sát bờ sông nơi đồn bảo an đồn điền Phú Tam đồn trú để đề phòng các tình huống bất trắc xẩy ra ảnh hưởng tới đoàn thuyền vận chuyển của Hà Tam lên căn cứ.
Rất may, mọi việc đúng như ý định của mệ Hai và ông Năm. Bọn địch lâu nay mưa bão không thấy bên ta có động tĩnh gì, chủ quan nhậu tới bến. Hơn chục chiếc thuyền nhất tề chèo ngược sông Thu đến vùng kiểm soát của ta an toàn tuyệt đối. Chỉ còn toán cuối cùng gần chục chiếc do chờ bốc xếp nên xuất phát muộn. Khi đoàn thuyền bắt đầu qua khúc sông có đồn bảo an canh gác, thì bất chợt có ánh đèn pha loang loáng, nhưng sau đó lập tức tắt ngấm. Thế là đoàn thuyền nhanh chóng mất hút trên dòng sông an toàn. Gần chục tấn gạo và gạo sấy đã được chuyển lên căn cứ. Bộ đội ta đã giải quyết được khó khăn trước mắt là chống đói trong những ngày mưa bão.
Sau chiến công đó, Hón tiếp tục trình bầy với Bẩy Tiền phương án biến Hà Tam thành tổng kho thứ hai của cơ quan Tỉnh đội, một tổng kho được phân tán trong dân, được bảo vệ bằng thế trận nhân dân.
Kể từ đó, mỗi nhà dân ở Hà Tam đều ý thức tích trữ quân lương cho giải phóng. Mọi sự ủng hộ của đồng bào ở các ấp, ở các thị tứ bị tạm chiếm, ở các thành phố xung quanh đều như những mạch ngầm chẩy về Hà Tam, lặng lẽ và âm thầm, tích tụ mỗi ngày một ít. Mệ Hai, Chín Hạnh và Miên nắm tin tức hàng ngày giúp cho Bẩy Tiền và Hón lên phương án điều động quân lương.

Chương XII
,
Chiến tranh đã hút hết nhân lực trai tráng ở bản Mẫn này ném ra chiến trường.
Đám thanh niên hết lứa này đến lứa khác được gọi lên đường nhập ngũ. Đầu tiên sức khỏe B2 còn bị loại cho ở nhà, sau này B2 cũng huy động hết miễn là đủ 17 tuổi. Đám thanh nữ cũng nô nức, người đi thanh niên xung phong, người đi dân công hỏa tuyến, người vào công nhân.
Những người con trai từ lớp tuyển quân đánh Mỹ những năm đầu không được đi, ở lại xã đều đã qua tuổi trung niên. Thời gian dần dần đẩy họ đến với tuổi già. Vì vậy, cán bộ xã bây giờ phần nhiều thanh niên nữ phải gánh vác.
Lèng là cán bộ thuộc diện đó.
Trong bản Mẫn, con trai lứa tuổi như anh Khang người yêu của Lèng giờ bói cũng chẳng có ai. Hết bộ đội, lại đến các nông, lâm trường, xí nghiệp lôi kéo họ. Tính cả các bản trong xã, cánh đàn ông sêm sêm tuổi Lèng cũng chỉ còn vài người, nhưng đều không đủ sức khỏe để nhập ngũ, cho nên việc Lèng trở thành xã đội trưởng cũng chẳng có gì là lạ.
Đúng là lúc đầu cũng có mấy ông tóc đã điểm bạc xì xầm bàn tán:
– Con gái bản mường mình xưa nay chỉ quen với việc xe tơ, dệt vải, chứ đâu có biết việc súng ống, đạn dược. Bắt nó làm khác nào bắt bò kéo cầy ruộng chằm, ba bẩy hai mốt buổi có mà sa lầy sớm. Lúc ấy gọi cả mường, cả tổng ra mà khênh à?
Nhưng rồi những người khác lại bảo:
– Con trai quen chân đi, miệng nói xông pha ra tiền tuyến hết cả rồi, bây giờ chả con gái gánh vác việc làng, việc bản thử hỏi lấy đâu ra nam giới mà gánh vác. Huống chi cô Lèng là đảng viên, cô ấy phải đầu tầu gương mẫu chứ. Chẳng lẽ lấy người bưng mo cơm không vững như các ông ra mà làm à?
– Ừ nhỉ! Gay thật! Con trai đi ra trận mạc hết thì ở nhà biết lấy ai gánh vác bây giờ?
Thế là nghiễm nhiên mọi việc làng trên, bản dưới đều đổ vào vai đàn bà cả.
Lèng cũng không sao vin vào câu ca “việc quan ai bắt nữ nhi đàn bà” để chống chế, đành lấy cái xanh-tuya-rông to bản thắt vào ngang lưng, chỉ huy huấn luyện dân quân tập đội ngũ quay phải, quay trái, đi đều mốt hai mốt ở sân kho hợp tác. Đầu tiên còn ngượng ngập, sau quen dần, nghe cũng dõng dạc ra phết.
Thế là chẳng mấy tuần sau Lèng đã trở thành người chỉ huy quân sự có cá tính và bản lĩnh ở địa phương.
…..
Vừa đi cấy ở đồng Lau về, mặt trời đã xối trên đỉnh đầu rồi, nghe tin bủ Hón ốm, Léng vội xăm xăm bước thấp, bước cao sang thăm:
– Bầm mỏi người à, để con lấy đồng bạc trắng đánh gió cho bầm nhé?
– Bầm hơi khó ở thôi, chị cứ về cơm nước chiều còn đi làm, mặc bầm!
– Mặc là mặc thế nào, con bẳng ù cho bầm nồi cháo, rồi đánh gió cho bầm, xong về ăn cơm cũng vừa!
Vừa nói Lèng vừa tay năm, tay mười thổi lửa, bẳng cái xoong nhôm đúc lên nấu cháo. Lại ù té chạy về nhà lấy đồng bạc hoa xòe, nắm tóc rối, mấy lá trầu không, đĩa dầu hỏa sang đánh gió cho bủ Hón.
– Đúng là bầm bị đậu rồi. Đồng bạc đen sì lại như thế này cơ mà. Nổi đỏ hết lưng lên rồi đây này. Bầm để yên con nhể đậu cho, xong ăn bát cháo tía tô, ra mồ hôi là nhẹ người ngay đấy mà!
– Thế như?
Lèng lấy cái kim khâu nhể từng nốt đỏ trên lưng bủ Hón, rồi nặn máu. Tay Lèng làm nhanh thoăn thoắt. Vừa làm Lèng vừa thủ thỉ:
– Bầm dạo này có ngủ được không?
– Ít ngủ thôi, nằm mãi mà chẳng thấy trời sáng.
– Chắc bầm lại nhớ anh Hón chứ gì?
– Chả biết anh ấy bây giờ ở đâu mà chẳng có thư từ gì về cho bầm.
– Ối dào, bộ đội nay đây mai đó, mà chiến tranh có ai thư từ gì được, cánh Thuận Phiến cũng có thư từ về đâu.
– Thế như?
– Mà bầm nhớ Hón vừa vừa thôi, kẻo Hón nóng ruột hay vấp ngã đấy!
– Ừ, thôi bầm không nhớ nữa.
Bủ Hón vừa mếu máo, vừa chớp chớp mắt.
Nhể đậu xong, vừa lúc xoong cháo chín. Lèng lấy bát, thái tía tô rồi múc cháo ép bủ Hón ăn. Được lưng bát, bủ kêu đau người, đi nằm, quay mặt vào vách và giục Lèng về ăn cơm còn đi làm chiều. Lèng biết bủ bảo Lèng về để khỏi nhìn thấy bủ khóc.
Hôm sau.
Mới quá nửa buổi sáng mà trời đã nóng như nung. Những trận gió Lào khô khốc thổi qua bản Mẫn như hút khô mọi thứ. Những trái bòng đang xanh nhưng chỉ qua hai cơn nắng đã trở nên vàng bệch. Mấy bụi chuối hột lá vốn xanh cứng nay cũng héo rũ trước trận gió hầm hập nóng. Những con trâu uể oải thở phì phò nép mình trong những gốc cọ tránh nắng nóng. Đàn vịt im ắng rủ nhau áp mình xuống đất ẩm lấy hơi mát mặc những chú chó từ đâu cũng xà xuống tranh chỗ nằm. Giờ ra chơi nhưng sân trường vắng tanh bởi đám trẻ sợ nắng nóng chỉ ở lỳ trong các lớp học. Bầu trời xanh đến rợn người, không có một gợn mây.
Đột nhiên từ trên đỉnh núi Phòng Không, những hồi kẻng liên thanh ba tiếng một rền rĩ vang lên. Rồi tiếng phản lực Mỹ ầm ì từ bên kia núi Thằn Lằn vọng lại. Hình như máy bay địch đang quần đảo đằng mạn thành phố Việt Trì.
Tiếng kẻng trên đồi Phòng Không mỗi lúc một dồn dập báo hiệu máy bay Mỹ sẽ bay qua thung lũng Thằn Lằn. Lèng hối hả giục bà con xã viên đang làm cỏ ngô trên đồng Ràng tìm nơi ẩn nấp. Cánh dân quân chụp vội súng hình thành đội hình chiến đấu.
Bỗng một tốp F4 như tia chớp gầm rú vượt qua. Một chiếc đùn ra luồng khói đen cố bay qua dẫy núi Cẩn Kheo lết về phia biên giới Việt Lào. Chắc là nó bị trúng đạn phòng không.
Lèng đang mải nhìn theo tốp F4 thì bất chợt một tốp “thần sấm” phía sau ào đến. Rồi có tiếng rít chói tai. Những quầng lửa bùng cháy và những tiếng bom nổ đinh tai nhức óc vang lên ở phía khu Đầm São. Lèng và chị em dân quân vội lội qua sông Bứa chạy tới nơi bom nổ.
Thì ra giặc Mỹ cắt bom. Bom rơi trúng vào trường cấp I của xã.
Nhà trường trước chiến tranh tọa lạc trên khu đất bằng phẳng ngoài trung tâm xã. Khi có chiến tranh, trường được chia làm hai phân hiệu. Một phân hiệu 8 lớp sơ tán vào khu Đầm São này, học trong các lớp học tranh tre nứa lá. Lớp nọ cách lớp kia vài chục mét ẩn dưới những bóng cây mý già ven con suối nhỏ. Sân trường cũng phân tán thành sân các lớp.
Khi Lèng tới nơi, khu Đầm São vốn yên bình là thế đã trở nên tan hoang. Một hố bom sâu hoắm nuốt hết cả sân khấu ngoài trời được giáo viên và học sinh ngụy trang bằng dàn dây bìm bìm nở hoa tím thẫm. Sân khấu này mỗi khi nhà trường tổ chức văn nghệ các cháu học sinh thường biểu diễn ca hát. Tất cả bây giờ chỉ còn là một hố sâu. Thêm một hố bom trúng khu vườn thực nghiệm. Nơi đây học trò có thể tập làm quen với các loại cây trồng. Những giò phong lan, những luống ngô, những bụi dong giềng dập nát, tơi tả. Mùi khói bom khét lẹt xông lên nồng nặc.
Ngôi nhà tập thể của giáo viên gần đấy bị bom thổi tung. Những tấm phên nứa vương vãi khắp nơi. Những trang giáo án bay tơi tả. May mà các cháu học sinh kịp xuống hầm trú ẩn nên không có cháu nào thương vong. Chỉ có cô giáo Tâm trẻ măng dính mảnh bom thoi thóp nằm trên vũng máu. Khắp nơi vang lên tiếng khóc, tiếng nhốn nháo của giáo viên và học sinh.
Các y tá của bệnh xá xã đã kịp thời đến sơ cứu cho cô giáo Tâm. Người ta để cô nằm trên chiếc chõng tre trong gian phòng hiệu bộ. Mặt cô bệch ra vì mất máu, đôi mắt như thất thần, mệt mỏi. Người cô thỉnh thoảng lại giật giật. Cô rên nhẹ. Dáng chừng đau lắm.
Lèng nhanh chóng tập hợp trung đội dân quân tại chỗ. Mệnh lệnh chiến đấu của xã đội trưởng được phát ra. Một số dân quân chia ra hướng dẫn cho các cháu học sinh men theo các con đường mòn dưới tán cây rừng tản ra về nhà. Bốn dân quân võng cáng cô giáo Tâm ra bệnh viện huyện. Số còn lại cùng với các cô giáo dọn dẹp nhà trường sau bom Mỹ tàn phá.
Từ trước đến giờ Seo Sơn chỉ chứng kiến máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời thung lũng Thằn Lằn này. Đầu tiên dân bản còn sợ, nhưng sau cũng quen dần. Tâm lý chủ quan coi thường địch bắt đầu xuất hiện. Nhiều người không chịu chấp hành các quy định về phòng không của xã. Nay bị bom Mỹ, những người đó lại trở nên hoảng loạn, chẳng biết ứng sử thế nào. Nhiều nhà không dám cho con đi học. Các lớp học vắng gần nửa. Không khí lo sợ lan rộng trong xã.
Cô giáo Hiệu trưởng đành phải lên gặp lãnh đạo xã nhờ can thiệp.
Quả thật tình huống này không sớm được giải quyết thì sẽ ảnh hưởng tới tất cả hoạt động trong xã.
Lèng đề xuất dùng lực lượng dân quân xã làm nòng cốt vận động các gia đình cho các cháu tiếp tục đến trường học và tổ chức các biện pháp phòng chống đến mức cao nhất bom đạn của máy bay Mỹ để ổn định tình hình.
Thế là công việc lại búi lên.
Lèng đi làm về, lùa vội bát cơm độn một phần gạo hai phần sắn duôi, quay đi quay lại, chưa kịp tăm răng, cô Thu bí thư xã đoàn đã nhanh chân đến trình bầy:
– Chiều nay mời chị cùng đi kiểm tra hầm trú ẩn cho các cháu ở trường cấp I với chúng em. Xem ra hầm đào đã lâu, các cô giáo yêu cầu phụ huynh học sinh sửa chữa và bổ xung nhưng tiến độ chậm quá.
– Thế à? Hay các em cứ đi kiểm tra rồi cho ý kiến chấn chỉnh, chị đang định tạt qua trạm xá xem cơ số thuốc dự phòng còn thiếu không. Vừa qua dịch sốt xuất huyết tiêu tốn nhiều thuốc quá, không kịp bổ sung e có chuyện gì thì trở tay không kịp.
– Chị ơi, cả chuyện đội mũ rơm đi học của các cháu nữa, xem ra có vẻ chủ quan lắm. Những việc này tiếng nói của chị trọng lượng hơn, chị nên cho ý kiến đỡ bọn em.
– Thôi được, ta sẽ đi luôn, qua ngọ rồi còn gì, tranh thủ kiểm tra xong còn đốc thúc việc làm cỏ lúa nốt mấy thửa trên đồng Lau để mai về đồng Hóp cho kịp thời vụ. Việc kiểm tra thuốc ở trạm xá đành để tối vậy.
Thu ngập ngừng nói tiếp:
– Ở bản Măng, cậu Phanh đào ngũ, chị giao cho đoàn thanh niên sử lý, cho đi tập trung lao động cải tạo trên xã, cậu ấy đã chấp hành tốt. Nhưng đến khi đi các bản hô khẩu hiệu “ai cũng như tôi thì mất nước” thấy nhục quá, cậu ấy trốn về bên vãi ở tận trên Vèo đã mấy ngày nay. Gia đình xin đợt tới cho cậu ấy nhập ngũ lại. Chị xem có được không?
– Cái đó cứ từ từ. Cần phải xem tư tưởng cậu ấy thế nào, có thực sự thông suốt không? Đành rằng chiến trường đang cần người, nhưng đấy không phải cái chợ, lúc nào muốn đến thì đến, muốn đào ngũ thì đào. Trốn lính như cậu ấy còn nhục đến đời con, đời cháu chứ không phải chỉ nhục đời cậu ấy đâu. Đoàn phải giáo dục cho thanh niên thấm sâu vào lòng điều ấy mới được.
– Vâng. Nhưng xin chị giơ cao đánh khẽ. Cậu Phanh là người yêu của cô em họ nhà em. Em không muốn vì việc này mà dòng họ nhà em mang tiếng là có người trốn lính, nhục lắm. Chị giúp em đợt tuyển quân tới cho cậu ấy nhập ngũ lại hộ em nhé.
– Thôi được, chị sẽ lưu ý!
Tối mít Lèng mới về đến nhà. Máng dẫn nước từ trên mó xuống thích nhà Lèng không biết hỏng chỗ nào, chẳng có lấy một giọt nước. Bố bầm Lèng già cả, chẳng đi sửa được, đành chờ Lèng về. Lèng phải đốt đuốc đi xăm soi, mãi mới tìm thấy. Hóa ra mấy cái cột đỡ lâu ngày mục sụp xuống. Loay hoay một lúc mới làm xong. Đáo qua nhà bủ Hón thấy tối thui, bủ nằm như gốc cây mục trên ván, Léng sợ quá vào lay bủ xem thế nào. Bủ hấp hay đôi mắt kèm nhèm bảo không sao, chỉ đắng mồm đắng miệng. Cứ để bủ nằm qua đêm nay là khỏe thôi.
Thế là hết cơm nước cho bố bầm ở nhà lại lo cháo lão cho bủ Hón, đến nửa đêm Lèng mới được chợp mắt.
Vừa thiếp đi được một lúc, Lèng đã thấy đường vào bản Mẫn rầm rập bộ đội hành quân qua. Đi đầu là anh Khang của Lèng ngực đầy huân chương, đội mũ tai bèo, vai đeo ba lô, vừa đi vừa hát. Rồi sau đó là ba chàng trai bản Mẫn hồ hởi theo sau. Hón vẫn nhu mỳ như ngày nào, Phiến vẫn nở nụ cười hồn nhiên, Thuận vẫn bô lô bô la y chang thủa trước. Cả Mậu nữa, vẫn mái tóc dài, vẫn đôi mắt đẹp. Họ xúng xính trong bộ quân phục mới, hùng dũng hiên ngang bước đi, giơ tay vẫy Lèng. Lèng lao ra đường bản gọi họ, bảo họ chờ Lèng cho Lèng theo với, lại định bảo họ nhớ viết thư về cho gia đình, cho Lèng nhưng họ đi nhanh quá, Lèng cứ rối chân lại, mỏi nhừ không làm sao đuổi kịp. Hóa ra Lèng mơ ngủ.
Tỉnh giấc khi trời mới lờ mờ, Lèng lại băn khoăn với những ý nghĩ đứt nối từ mấy ngày nay. Không thể để tình trạng các bủ già cô đơn có người thân ra trận sống như thế này được. Gay quá. Các bủ mỗi người một nhà, đôi khi ốm đau trái nắng trở trời không thể tự chăm sóc cho mình được. Đám thanh niên đi làm hết, ngộ nhỡ xẩy ra chuyện gì thì biết ăn nói thế nào với người ra trận.
Hay là mình đón bủ Hón sang nhà nhà mình? Nếu được như thế thì nhà mình sẽ có ba bủ già cùng ở. Một bủ thì không tự chăm lo cho mình khi đau ốm được, chứ có ba bủ thì người nọ dựa vào người kia như cây có bụi, chắc sẽ tốt hơn. Còn nữa, các bủ già có bầu bạn tâm tình, dễ dàng bầy tỏ được tâm sự, nỗi nhớ nhung người đi xa cũng vơi bớt một phần, cuộc sống cũng thêm thanh thản. Hơn thế, mình đi làm về cơm nước cho hai nhà nhưng chỉ cần một bếp, nắm rau chỉ việc nấu một nồi, lẻ gạo cũng không để lãng phí.
Nhưng, liệu có điều gì khiến bà con dân bản dị nghị không nhỉ? Có ai cho rằng cán bộ lợi dụng chính sách hậu phương quân đội thu lợi cho bản thân mình không? Ngộ nhỡ anh Khang về có cho rằng mình quan hệ yêu đương, bắt cá hai tay với Hón? Thời buổi này mật ít, khoai nhiều, cánh con gái bọn mình như khoai cả rổ, vô tình “làm phúc phải tội” thì khổ. Ai biết mà thanh minh cho mình được. Lại còn không biết bố bầm mình có chịu cho không? Rồi bủ Hón có đồng ý không nữa?
Dù sao cũng phải giải quyết tư tưởng cho các bủ cái đã. Trong đã ấm thì ngoài chắc yên thôi. Lo gì. Lèng tự nhủ vậy.
Trăn trở mãi gà gáy sáng đã rộ. Lèng bật dậy chuẩn bị đi cấy. Cánh đồng Hóp đã bừa kỹ từ hôm qua, hôm nay chỉ cần bừa vạt là xuống mạ đẹp.
Trống đi làm. Cả đội Mẫn ùa ra đồng, người bừa vạt, người nhổ mạ, người xuống cấy. Làm hợp tác vui như đi trẩy hội. Những bàn tay thoăn thoắt ra mạ, lối cấy thẳng như căng dây, hàng sông, hàng con đều tăm tắp.
Nước lắp xắp. Những thợ bừa vạt cấy trước đây phải là đàn ông giỏi mới được làm, thì giờ cánh đàn bà con mọn, cứ gọi là làm băng băng. Bùn sánh lên mầu đồng điếu, nhuyễn phẳng, mát tay rười rượi, lúa cấy đến đâu xanh mầu hy vọng đến đó.
Giải lao. Cánh thợ bừa, thợ cấy hè nhau đi bắt cua, bắt tép. Các con đìa dọc bờ mương dẫn nước từ đập Hóp xuống được be lại, tát nước. Những con mài mại, cá cờ nằm phơi bụng trên đáy đìa được nhặt bỏ vào chiếc ráng đeo ở bên hông, các chú cua bò loăng ngoăng được vặt càng vào nằm cùng lũ cá, cả những chị niềng niễng, những anh cà cuống chậm chân cũng chịu chung số phận trong chiếc ráng của những người thợ cấy. Thêm một nắm măng chua hoặc một nắm rau sắn muối là trưa nay cả nhà có nồi canh ngọt lịm.
Lèng bắt được có nhẽ đến bát ô tô cá tôm cua lẫn lộn. “Già được bát canh, trẻ được manh áo mới”. Âu cũng là quy luật của đời. Ở nhà con lợn, con gà chăn nuôi được đã phải bán nghĩa vụ cho Nhà nước để phục vụ chiến trường, phục vụ cho các công, nông trường, xí nghiệp. Hạt thóc gặt về trước tiên là lo phơi khô quạt sạch gửi ra tiền tuyến nuôi quân đánh giặc, còn lại chia đều ra các tháng để gọi là không có tình trạng đứt bữa. Thế nên đa phần bữa ăn chỉ có bốn phần gạo còn sáu phần độn lót, sắn sảng ngô khoai. Nồi sắn luộc ra, ăn cho vui thì bùi, nhưng ăn để lấy no thì bụng dạ lúc nào cũng háo như có lửa. Nhiều nhà có sáng kiến thái sắn nhỏ như hạt lựu, ngâm nước rồi đãi bớt bột đi, ghế vào cơm ăn cho đỡ ngán như kiểu trước đây ăn củ nâu chống đói vậy. Cơm sắn ăn với canh rau sắn, quanh đi quẩn lại vẫn chỉ thấy sắn là sắn. Như thế cũng vẫn là may, đồng rừng còn có sắn, ở đồng bằng làm gì có sắn mà ăn, chẳng ao ước chán vạn ra ấy chứ. Thôi thì chẳng bằng lòng cũng phải bằng lòng, biết làm thế nào được. Trăm cái tội chung quy vẫn là cái tội do thằng Mỹ xâm lược mà ra cả. Trông xa chẳng được thì trông gần. Bà con đi làm đồng kiếm thêm được tý gì hay tý ấy để cải thiện bữa ăn cho cụ già, cháu nhỏ ở làng bản. Đó cũng là niềm vui, niềm hý hửng của những chị thợ cấy đâu phải chỉ ở bản Mẫn này.
Trưa.
Mặt trời đã leo lên gần đỉnh đầu, phả cái nóng xuống bứt rứt sống lưng. Trống báo tan tầm cũng vừa điểm. Mọi người lục tục lên đập Hóp rửa chân. Chẳng có mống đàn ông nào. Những đôi chân trần bê bết bùn được chị em kéo lên đến tận đùi non. Họ lấy những nắm cỏ mần trầu dứt vội ven bờ mương lên cọ rửa. Cái anh bùn non này, té tý nước vào là trơn tuột đi ngay, nhưng lại ngấm vào lỗ chân lông đến kỹ. Nếu lơ là không cọ sạch là đến lúc khô, đọng lại một lớp mầu nâu nhạt trên da thịt, ngứa như sát lá han. Thế là gãi đến đâu là bựa trắng nổi lên đến đấy, trông phát khiếp.
Lèng cũng cọ rửa đến lúc da chân đỏ ửng lên mới thôi.
Những mạch máu ly ty xanh mờ, chạy khắp từ bàn chân lên bắp vế của Lèng phô ra một đôi chân trần nõn nà và cân đối. Cái vẻ đẹp ấy chứa đựng sự khao khát của một cơ thể mạnh khỏe và đầy sức quyến rũ. Lèng xoa ấm bắp vế mình. Một cảm giác rừng rực trào dâng trong lòng người con gái xứ mường đang đẫy đà sức sống. Càng xoa xát bao nhiêu cái cảm giác chộn rộn trong lòng càng bùng lên dữ dội. Mắt Lèng hoa lên, dại đi, đờ đẫn. Ruột gan phừng phừng như có hòn than đỏ dục dã. Tự nhiên Lèng muốn xát thật mạnh, xoa thật mạnh vào nơi bắp vế cho thỏa nỗi khát khao cháy bỏng.
Bất giác Lèng nén một tiếng thở dài. Ở nhà, ở bản, ở xã, ở hậu phương còn bao nhiêu là việc. Phải nén lòng lại thôi chứ còn biết làm thế nào. Cả đám con gái hơ hớ sức xuân trông vào Lèng. “Lòng vả cũng như lòng sung”, Mình thế nào chúng nó cũng vậy.
Thế mới biết trong thời buổi đất nước có chiến tranh, ai cũng phải kìm nén, ai cũng khổ. Chẳng cứ người ra trận mới khổ. Đàn bà, con gái ở hậu phương khổ nào có kém gì. Đã thế làm cán bộ, đảng viên lại còn phải đầu tầu gương mẫu. Lơ mơ là bị kiểm điểm lên, kiểm điểm xuống, bia miệng cả đời chứ đâu phải chuyện đùa.
Trưa hôm đó cũng chửa cơm xong, cái Tâm lại hớt hải chạy về báo với Lèng:
– Chết rồi chị ơi, tay Thuận bản mình đảo ngũ, chạy sang hàng ngũ địch hồi chánh rồi!
– Làm gì có chuyện đó. Em nghe tin ở đâu?
– Bọn trực chiến nghe trộm đài địch. Chúng nó bảo đài Sài gòn trong buổi phát thanh “Nhịp cầu thân yêu” ra rả mấy ngày nay rồi. Nó nói đúng tên tuổi tay Thuận, cả địa chỉ bản Mẫn mình nữa. Phen này thì còn nhục gấp mấy lần đào ngũ ấy chứ. Rồi điểm thi đua, thành tích của xã mình cũng mất hết.
– Này, ai cho các cô ấy nghe đài địch hả? Chúng nó tuyên truyền bậy bạ cũng tin à? Chết thôi.
Lèng nhăn mặt khiến Tâm cuống, lúng búng như ngậm hột thị. Không khí ngột ngạt như trời có giông bão. Lát sau Lèng hạ giọng:
– Em không được để lộ tin này ra đâu nhé. Bà con trong xã mình chẳng mấy người có đài. Mà có cũng không dám mở đài địch ra nghe đâu. Chiều nay chị sẽ cùng em lên trận địa phòng không. Phải tuyệt đối gìn giữ, không để dân bản hoang mang. Nghe chưa?
– Vâng, em nhớ rồi!
Thế là chiều hôm đó dù bận bao nhiêu là việc nhưng Lèng cũng phải bỏ công, bỏ buổi lên tận trận địa phòng không của dân quân xã trên đỉnh núi Suối Reo, gặp mặt tổ trực chiến.
Sau khi nói rõ tác hại của việc nghe đài địch, Lèng đặt những giả định kẻ địch nhặt được giấy tờ của Thuận hoặc thu lượm được các thông tin từ đâu đó, phát lên đài để gây hoang mang cho nhân dân miền Bắc hậu phương thì sao? Nếu mình cả tin, phát ngôn thiếu suy nghĩ là mắc mưu gây rối hậu phương của địch. Thế là có tội với dân, với nước chứ còn gì nữa.
Lèng nói tiếp:
– Các em là những Đoàn viên Thanh niên, là cánh tay phải của Đảng, các em không được xao nhãng lập trường cách mạng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta đang vào giai đoạn cần tập trung sức người, sức của cho tiền tuyến để đánh thắng kẻ thù. Trách nhiệm của chị em ta ở hậu phương là phải giữ yên được lòng dân để phục vụ cho tiền tuyến.
Ngừng lời một lát. Lèng xúc động nói thêm:
– Bà con dân bản mình khổ quá rồi. Đàn ông đàn ang xung phong ra trận cả, trăm việc ở nhà dồn vào vai người già và đàn bà chân yếu, tay mềm. Bây giờ lại nhận được tin dữ thế này, rồi người này nghi hoặc, người khác lời ong tiếng ve, đàm tiếu việc này việc nọ là trút thêm nỗi lo, trút thêm gánh nặng cho dân bản mình. Chẳng hóa thế làm cho kẻ địch càng mừng a? Cho nên các em đã trót nghe đài địch rồi thì thôi, nghe đâu bỏ đó, đừng mắc thêm khuyết điểm tuyên truyền không công cho địch là thành phản động đấy.
– Vâng, chúng em xin nhận khuyết điểm là tò mò nghe đài địch. Xin chị tin chúng em, chúng em sẽ giữ bí mật tin này. Nếu có người khác nghe được, chúng em sẽ nói lại những điều như chị nói với chúng em hôm nay cho mọi người hiểu.
– Ừ, thế thì tốt rồi. Các em nên nhớ thêm điều này. Làm người lính ra trận gian lao vất vả lắm, nhưng chỉ có một việc là đánh giặc, nhất “xanh cỏ” nhì “đỏ ngực” thôi. Còn chúng ta ở hậu phương có đến trăm mối lo, mà toàn mối lo không tên, phải đâu ai cũng biết. Làm tốt thì không sao chứ sơ sẩy một tý là ai ai cũng chì chiết. Rồi khi người đi đánh giặc thắng lợi trở về, mình biết ăn biết nói thế nào trong ngày chiến thắng ấy?
– Chị ơi, chúng em xấu hổ lắm rồi. Chị bận trăm công nghìn việc, hết việc xã rồi lại việc bản. Thế mà chúng em vẫn làm chị bận lòng. Thôi, chúng em đã biết lỗi, chị đừng buồn nữa nhé!
– Ừ, chị em mình cùng cố lên! Thôi, các em ở lại, chị về!
Tiễn Lèng ra về mọi người nhìn theo với niềm tin yêu và kính trọng.
Người nữ xã đội trưởng này mới ngày nào còn như mầm cây vừa nứt vỏ, vô tư “ăn chưa no, lo chưa tới” giờ đã phải gánh vác trọng trách quá lớn trước tập thể Đảng bộ xã. Cái áo thì quá rộng mà bản thân con người còn mảnh mai. Thật là vất vả đến tội nghiệp.
Đêm hôm ấy Lèng thưa với bố bầm về ý định đón bủ Hón sang nhà mình để tiện trông nom và chăm sóc khi ốm đau, trái nắng trở trời. Bầm Lèng nghe thế vội hỏi:
– Thế ra mày đã có ý định với thằng Hón à. Ừ, bầm thấy thằng ấy ngoan hiền và chịu khó lắm. Nhà mình mà được nó làm rể thì còn gì bằng.
Bố Lèng lại bảo:
– Không được đâu con ơi! Nhà dạ ra nhà dạ, nhà vãi ra nhà vãi. Bà dạ không ở chung với ông vãi một nhà được. Lề thói bản mình không cho làm thế đâu.
Lèng phải thưa lại:
– Không phải thế bố bầm ạ. Con và Hón chỉ như bạn bè với nhau thôi. Mậu mới là người yêu của Hón. Nhưng bây giờ cả Hón và Mậu đều đang ở chiến trường. Bủ Hón thành ra cô đơn. Bổn phận con ở hậu phương phải chăm lo cho bủ để an lòng người ở chiến trường. Bố bầm đồng ý để bủ Hón sang nhà mình là giúp con hoàn thành nhiệm vụ, giúp Hón an lòng chiến đấu. Bố bầm nghe con nhé.
Hiểu ra việc con gái làm, bố bầm Lèng đều vui vẻ, chuẩn bị chỗ nghỉ để đón bủ Hón.
Trưa hôm sau Lèng lại sang nói chuyện với bủ Hón. Đầu tiên bủ cũng giẫy như đỉa phải vôi, một mực không chịu. Người bản Mẫn mình xưa nay nhà ai nhà ấy ở, chẳng ở chung đụng với nhau thế bao giờ, xem ra không quen được. Nhưng nghe Lèng nói, bây giờ mọi việc làm của những người ở hậu phương đều vì người ở tiền tuyến, để người tiền tuyến an lòng, chóng đánh xong hết giặc còn về hậu phương thì bủ nghĩ lại, người ngoài còn lo cho con bủ để con bủ an lòng đánh giặc, huống chi bủ. Cho nên thôi thì bủ cũng vì thế mà bằng lòng.
Thế là Lèng đã thuyết phục được mọi người trong nhà thay đổi cái nếp xưa nay chưa có, để chung sức gìn giữ hậu phương, lo đỡ cho người đi đánh giặc.
Hôm sau Lèng đưa ý định của mình ra cuộc họp chi bộ thường kỳ để xin ý kiến. Dù sao Lèng cũng là đảng viên, mà đã là đảng viên thì mọi việc làm và lời nói nhất nhất phải tuân theo nghị quyết của Đảng. Rất may, chi bộ hoàn toàn đồng ý với cách thu xếp của Lèng. Các đảng viên còn đề nghị ủng hộ Lèng mỗi người hai ngày công một vụ nhưng Lèng không đồng ý.
Kể từ hôm đó, trong ngôi nhà của Lèng, ba bóng bủ già cùng nương tựa vào nhau, không còn cảnh bủ Hón lủi thủi một mình nữa. Lèng đi làm, đi họp cũng an tâm hơn.
Thế rồi, chẳng mấy chốc trên cánh đồng Lau, đồng Ràng, đồng Hóp lúa đã uốn câu, tỏa ra mùi hương đầm ấm, báo hiệu một mùa cơm mới ngọt lành cho bản Mẫn.

Chương XIII
Thế là mọi việc đã rõ như ban ngày. Điều mà Thái Bình nghi ngờ bấy lâu, đêm nay đã đúng là sự thực. Mệ y, người mà Thái Bình luôn luôn yêu quý hết lòng vẫn ngấm ngầm giấu y liên hệ với tổ chức cộng sản, chống đối lại quốc gia, chống đối cả y, một trung úy đồn trưởng được cấp trên hết sức tin cậy và ưu ái.
Trước đây, qua lời nói của bả, Thái Bình thấy toát lên sự thân thiện với những người ở phía bên kia chiến tuyến, nhưng y chỉ nghĩ mệ y theo đạo Phật nên yêu thương tất cả mọi chúng sinh. Còn bây giờ, bằng việc làm thực tế, bả đã chính thức tiếp tay giúp cộng sản, giúp những người cách mạng chống lại y. Mà họ là ai? Họ chính là những người đã giết ba y, vì sợ ông khai ra các cơ sở của cộng sản trong quá khứ đánh Pháp. Mệ y, bả cũng biết sự thật tàn nhẫn đó.
Đấy là điều mà y không thể hiểu nổi!
Thái Bình luôn luôn mang trong lòng ý thức căm thù những người cộng sản. Không thể có lý do gì mà một người con lại có thể ủng hộ những người đã giết cha mình. Vậy thì sao lại một người vợ có thể thân thiện, giúp đỡ, thậm chí đứng về phía những kẻ đã giết chồng mình như mệ y được nhỉ?
Y nghĩ mãi mà không ra!
Hay mệ y bị đám người kia mua chuộc, dụ dỗ? Cũng có thể lắm! Mà đám người ấy là ai mới được chứ? Họ là ông Năm Long, là Chín Hạnh, là những người Thái Bình mới đây thôi còn trọng vọng, còn yêu thương và bây giờ vẫn trọng vọng, yêu thương. Trong đám người ấy còn có cả Miên, người mà Thái Bình luôn coi như người em gái.
Vậy là thế nào?
Tại sao mọi người lại đi ngược lại con đường của y?
Trong bữa giỗ cha y hôm qua, những người ấy đến. Lẽ ra việc họ đến là điều bình thường, bởi gì thì gì nhất thiết họ phải đến. Trong mối quan hệ thân tình từ ngày cha y còn sống, ông Năm Long vốn là chỗ coi như anh em với cha y và vì thế Chín Hạnh, con ông tất phải theo cha mà đến phụ giúp lo cơm canh cho đám giỗ. Ấy là chưa nói đến Chín còn là người yêu của y. Điều ấy tuy hai nhà chưa có lễ lạt gì nhưng cũng không có gì phải bàn nhiều. Còn Miên cũng vậy, Miên là cháu, nếu Miên không đến chẳng hóa ra là điều lạ lắm sao?
Thế nhưng, chính trong đám giỗ cha, y lại thấy băn khoăn lắm lắm. Nhìn thái độ ân cần chúc rượu của ông Năm Long, nhìn ánh mắt của Miên, nhìn cung cách mời mọc thân tình của Chín Hạnh và nghe những lời khen của mệ y với đám lính đang đồn trú ở đồn điền Phú Tam làm cho y có chút gờn gợn trong lòng.
Sao lại thế nhỉ?
Thái Bình tự đặt câu hỏi và đi tìm câu trả lời, nhưng đến nửa bữa giỗ y vẫn chưa tìm ra.
Kể từ ngày thượng sỹ nhất Hùng Cường được thượng cấp rút về thường trực tại đồn Núi Vũ và nhất là việc Hùng Cường được gắn hàm thiếu úy đồn phó khi chưa đến thời hạn và chưa có chiến tích gì đáng kể luôn làm Thái Bình thấy bất an.
Qua cách giao tiếp của Hùng Cường với viên cố vấn Mỹ, Thái Bình cảm thấy Hùng Cường rất được lòng viên cố vấn này.
Hùng Cường vốn khác hẳn với Thái Bình. Hắn là một hạ sỹ quan võ biền, không học hành, chỉ lấy đánh đấm, bắn giết làm cách thức tiến thân trên con đường binh nghiệp. Đối với hắn không có gì gọi là lòng yêu con người, trọng lương tâm danh dự cả và vì thế hắn chiến đấu không phải như khẩu hiệu mà tổng thống đã căn dặn là chiến đấu vì Danh dự, Tổ quốc và Trách nhiệm vốn luôn được treo trong các nơi đồn trú. Hắn chỉ chiến đấu vì quyền lực của hắn, vì túi tiền của hắn mà thôi.
Cứ xem cách hành xử của Hùng Cường với binh sĩ trong đồn thì rõ. Đối với những binh sĩ được học hành tử tế, có lối sống nghiêm chỉnh, không xu nịnh thì hắn tỏ vẻ khinh khi, coi thường. Còn đối với người ít hiểu biết văn hóa, tính tình bặm trợn, ra dáng anh chị, nếu biết lấy lòng hắn thì hắn vuốt ve chiều chuộng, kích động thói côn đồ, kéo bè kéo cánh, ăn nhậu, bù khú với nhau.
Ngay cả với Thái Bình cũng vậy, bề ngoài, hắn tỏ ra ngoan ngoãn, phục tùng. Nhưng trong ánh mắt mầu tro xám kia, vẫn loé lên một tia bông phèng, ngạo mạn. Chắc hắn cho rằng đồn trưởng Thái Bình chưa có một ngày ra trận, chỉ vung tay vung chân, khua môi múa mép ở nơi không có tiếng súng mà thôi, đâu thể so sánh với hắn được.
Chẳng thế mà có lần trong một bữa rượu, hắn đã dám bỡn cợt hỏi Thái Bình:
– Thưa trung úy, trong cuộc đời binh nghiệp của trung úy, trung úy đã bao nhiêu lần được giáp mặt với cộng sản?
Thái Bình đã dằn mặt hắn:
– Tui chưa giáp mặt trực tiếp với cộng sản lần nào, nhưng tui đã giữ yên được hàng nghìn lòng dân trung thành với quốc gia. Vậy còn thiếu úy, thiếu úy đã giết được bao nhiêu cộng sản rồi ha?
Biết là đã lỡ lời phạm thượng, nên Hùng Cường im thit thít, nhưng trong đầu hắn ai biết được hắn đang nghĩ gì?
Chính vì thế mà binh sĩ trong đồn, từ ngày Hùng Cường lên chức đồn phó, tự nhiên chia làm hai phái rõ rệt; phái theo và phái không theo hắn. Thái Bình cố gắng lập lại kỉ cương mà chưa được. Y cũng không muốn khơi sâu khoảng cách bè phái trong đồn, bởi làm thế khác gì đổ thêm dầu vào lửa. Thượng cấp sẽ cho rằng y cũng đang kéo bè kéo cánh, khác gì viên đồn phó võ biền kia. Nhưng càng hành xử có văn hóa bao nhiêu, lòng y càng dâng lên nỗi bực tức bấy nhiêu. Bực tức mà không làm gì được.
Tự nhiên Thái Bình thấy mình cô độc trong cái đồn mà chính y là người xây dựng, chính y là người làm chủ.
Bây giờ, y lại bị chính người mệ mang nặng đẻ đau ra y cô lập. Còn gì khổ tâm hơn thế nữa?
Mải suy tư, đến giữa bữa giỗ hắn mới giật thót người. Tại sao mọi người ở đây lại cưng chiều đám lính tráng ở đồn điền Phú Tam thế nhỉ?
Y nhìn lũ lính và điểm mặt chúng, không thiếu một đứa nào. Thì ra chúng bỏ hết vị trí canh gác để đến đây uống rượu nhân ngày giỗ cha y. Thôi đúng rồi! Có người đã lợi dụng ngày giỗ cha y mời chúng nó. Mà đã bảo giỗ cha y thì đứa nào dám không đến thắp hương tưởng nhớ. Thế là bỏ vị trí canh gác. Mà ở đó, canh là canh con đường thủy trên dòng sông Thu ấy.
Nghĩ đến đây Thái Bình bấm tên lính cận vệ đi theo tháp tùng y. Hai thầy trò lên xe Jeep phóng thẳng đến cổng đồn điền. Bỏ xe ở cổng, y nhẹ nhàng đi đến tháp canh. Từ đây y đã nhìn rõ những chiếc thuyền đầy hàng đang ngược sông lên chiến khu của cộng sản. Để kiểm tra cho chắc, y lóe đèn coi cho rõ. Chỉ lóe đèn lên thôi, xong tắt và lỉnh ngay khỏi tháp canh bởi y hiểu những chiếc thuyền này không chỉ đi một mình, đằng sau đó phải là những tay súng thiện xạ của phía bên kia. Y không muốn mình là vật thí mạng cho đám lính ngu dốt ở cái trạm canh này.
Y ngao ngán trở về đồn, không vào dự nốt bữa giỗ cha y nữa.
Suốt đêm tới sáng Thái Bình không sao ngủ được. Y giận mệ y, giận ông Năm Long, giận Chín Hạnh, giận Miên, giận thằng cha đồn phó Hùng Cường, giận lây sang cả đám lính.
Y quyết định phải làm rõ trắng đen, môn ra môn, khoai ra khoai, chứ để như thế này y không sao chịu được. Còn vong linh cha y nữa chứ! Y không thể để tình cảm nơi trần gian, dương thế phụ bạc công đức sinh thành của cha y, có tội với cha y lắm! Cần thiết, mệ thì không bỏ được chứ người yêu thì dứt khoát y bỏ.
Trưa hôm sau, Thái Bình về thắp hương cho cha. Xong, y mời bà Hai Thái Bình lên trước bàn thờ, y khấn:
– Cha đã cả một đời vì vợ vì con, nay sống khôn, chết thiêng cha về chứng giám cho con hỏi mệ một câu và chỉ một câu thôi, vì sao mệ tiếp tay cho cộng sản, tiếp tay cho những kẻ đã giết cha. Như thế có phải mệ đã phản bội cha không hè?
Bà Hai Thái Bình rơm rớm nước mắt, bảo:
– Trước bàn thờ cha, con không được nói thế, tội cho vong linh cha con. Mệ chưa bao giờ phản bội cha con cả.
– Mệ không phản bội cha con răng mệ lợi dụng ngày giỗ cha con, biểu tất cả lính tráng bốt canh đồn điền Phú Tam qua uống rượu tùm lum để cộng sản có cơ hội dùng thuyền vận chuyển hàng trên sông Thu là mần răng?
– Thôi, đến nước này mệ sẽ đưa con sang gặp chú Năm Long để hai năm rõ mười câu chuyện.
– Được, con sẽ đi. Sẽ có vong linh cha con làm chứng!
Thái Bình đưa bà Hai sang nhà ông Năm Long. Ông Năm vồn vã:
– Chị Hai sang chơi.
– Cháu Thái Bình vừa chất vấn tui là phản bội cha nó, tiếp tay cho cộng sản. Chú xem nó quy tội cho tui thế có đúng không?
– Chị Hai cứ bình tĩnh, chuyện đâu còn có đó mà!
Thái Bình tiếp lời:
– Mọi người đều biết cộng sản giết cha cháu để bịt đầu mối. Chính vì thế mà quốc gia đã nuôi nấng cháu ăn học. Nay lại giao cho cháu làm đồn trưởng đồn Núi Vũ, canh giữ đất Hà Tam này. Vậy sao mọi người lại ủng hộ cộng sản? Như thế không phải đã phản bội cha cháu là chi vậy?
Ông Năm Long nhẹ nhàng:
– Chuyện không phải như cháu nghĩ đâu hè! Cha cháu là người trước sau như một, kiên trung, không bao giờ phản bội cách mạng. Mấy ông quốc gia đánh cha cháu chết vì cha cháu kiên quyết không khai, không phản bội cách mạng đó.
– Làm chi có bằng chứng cha cháu bị quốc gia đánh chết?
– Đây là việc cơ mật mà cháu nên biết. Cha mệ cháu và chú xưa nay là người trung thành với cộng sản. Việc cha cháu bị quốc gia đánh chết được người của cách mạng nằm trong tổ chức quốc gia báo ra. Trong buồng nhà cháu hiện nay vẫn còn căn hầm bí mật mà trước đây cha mệ cháu nuôi giấu một ông cán bộ cách mạng cấp cao của tỉnh này. Cha cháu bị bắt, người có trách nhiệm bên phía cách mạng định dời ổng đi nơi khác để đảm bảo an toàn, nhưng lúc đó cách mạng chưa kịp gây dựng được cơ sở, chưa có chỗ nuôi giấu ổng, hơn nữa mệ cháu và chú đứng ra bảo lãnh trước tổ chức. Kết quả là quốc gia không bắt được ổng. Vậy chẳng phải cha cháu không phản bội cách mạng là chi hè!
Dừng một lát, ông Năm nói tiếp:
– Cha cháu không phản bội thì hà tất chi cách mạng lại thủ tiêu ổng! Vả lại như ở đồn của cháu có giam người cộng sản, liệu cộng sản có ba đầu sáu tay lọt vô để thủ tiêu họ được không hè? Vậy nếu không phải quốc gia đánh chết cha cháu thì ai vào đây?
– Theo cháu những ý kiến của chú vẫn chỉ là võ đoán, chưa có bằng chứng chi xác thực. Ngay cả ông cán bộ cấp cao đó bây giờ ở đâu cũng không ai biết thì mần răng cháu tin được?
– Ổng cán bộ đó là người luôn khiến quốc gia mất ăn mất ngủ mà các cháu đã biết. Đó chính là “con hùm xám” Tây Nguyên, sư đoàn trưởng sư đoàn Chu Lai của cộng sản đấy. Chính ổng là người chỉ huy màng lưới tình báo của cách mạng trong tổ chức quốc gia. Ổng là người tiếp nhận tin nội gián mật báo cha cháu không phản bội cách mạng nên bị quốc gia đánh chết. Vì vậy ổng đã đứng ra đảm bảo lòng trung thành của cha cháu với cách mạng. Đây là giấy chứng nhận của ổng trước khi ổng về cứ.
Ông Năm rút trong ống nứa cất ở tủ ra đưa cho Thái Bình môt tờ giấy đã ố vàng, chữ đã ngả mầu:
– Cháu hãy giữ để sau này trình với cách mạng, lấy lại thanh danh cho cha cháu.
Thái Bình run run đón nhận tờ giấy ông Năm đưa. Y ấp úng:
– Ổng là sư đoàn trưởng Nguyễn, “con hùm xám” Tây Nguyên của cộng sản ư? Thì ra cha mệ cháu và chú đã nuôi ổng? Vậy quốc gia biết thế sao vẫn lo lắng cho cháu?
– Đấy là mưu sâu kế hiểm của họ cháu ạ. Họ dùng bàn tay sắt bọc nhung, vừa li gián mệ con cháu với cách mạng, vừa dùng chính cháu để chống phá cách mạng, vừa lấy lòng dân chúng mà cháu vẫn phải hàm ơn quốc gia, trung thành với họ.
Thái Bình chới với trước sự thực phụ phàng này. Y không thể ngờ rằng cha mệ y lại là người đã từng che giấu, nuôi dưỡng một vị bây giờ là sư đoàn trưởng tài ba của cộng sản. Y trộm nghĩ, chưa chừng chính vì thế mà cộng sản không nỡ tiêu diệt cái đồn của y như tiêu diệt Hiệp Đức.
– Thế mần răng chú và mệ cháu không nói cho cháu biết sớm hơn?
– Bởi vì chưa đến lúc cần cho cháu biết. Cháu không là đồn trưởng đồn Núi Vũ, quốc gia sẽ đưa người khác về. Biết đâu người ấy là ác ôn thì càng khó cho nhân dân và cách mạng. Chi bằng cứ để cháu ở đó, cách mạng còn dễ bề cảm hóa. Bây chừ cách mạng đã chiếm được Hiệp Đức, Núi Hàm, Đá Động là những căn cứ mạnh của quân lực Việt Nam Cộng hòa rồi, cháu cũng nên mau tỉnh ngộ không thì không kịp nữa!
Thái Bình thực sự lúng túng. Hình ảnh Hùng Cường lại ám ảnh và khiến y thêm hoài nghi sự thân thiện của viên cố vấn và đám lính Mỹ trong đồn, đẩy sự cảnh giác của y cao lên. Bây giờ y mới hiểu y chỉ là công cụ trong tay chính quyền quốc gia, đúng như sự phân tích của ông Năm và mệ y. Mọi nhận thức mà y tiếp thu ở quân trường và đem ra vận dụng ở Hà Tam từ trước đến nay chỉ như bức tường đất mong manh bị con nước thực tế phũ phàng đập vào, rã rời ra từng mảng.
Y hối hận vì đã nhầm lẫn khi đặt cược cả sức lực và tuổi trẻ vào cửa chống đối cách mạng trong canh bạc mà y đã theo đuổi suốt bao năm qua.
Y như con thuyền đang loanh quanh trong vùng rốn lũ. Dù đã nhìn thấy bến bờ nhưng nước xiết, chưa làm cách nào thoát ra khỏi vùng xoáy để đến chỗ bình yên.
Y chỉ còn biết bấu víu vào tình yêu. Đó là cứu cánh của y bây giờ!
Đêm hôm ấy, khi chỉ có hai người, Thái Bình mạnh dạn ngồi sát bên Chín Hạnh. Từ trước đến nay, bao giờ Chín cũng giữ khoảng cách nhất định khi gặp y. Hai người thủ thỉ tâm sự cùng nhau những điều mà trước đây Thái Bình còn ngập ngừng chưa dám nói. Cuộc đời y giờ có lẽ đã bước sang một trang mới.
Bất giác, Thái Bình ôm chặt lấy Chín Hạnh như sợ Chín sẽ lìa xa y. Chín Hạnh mỉm cười, khẽ khàng nói nhỏ trong hơi thở:
– Em tin anh sẽ hiểu những người cách mạng!
Trong lòng Thái Bình bỗng nhiên thanh thản lạ. Từ giờ, y đã hiểu ra nhiều điều, trong những điều đó có cả những điều trước đây y còn mờ mịt. Y đã có lòng tin của Chín Hạnh bởi Chín Hạnh tin rằng có thể cảm hóa được y. Y cũng hiểu rằng có được lòng tin đó tức là y đã đặt được một chân vào ngôi nhà hạnh phúc của chính mình. Có điều, tất cả bây giờ còn phụ thuộc vào mối quan hệ của y với những người cộng sản. Chưa bao giờ y tin vào cha mệ y, tin vào gia đình ông Năm Long như bây giờ.
Bầu trời đêm nay đầy sao. Chòm sao bẩy ngôi hình chiếc gầu sòng đặt ngược lung linh. Ngôi sao Bắc Đẩu nhấp nháy sáng như đang mỉm cười với Thái Bình.
VŨ QUỐC KHÁNH
(Còn tiếp)


