Phía sau trận chiến – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 2

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 21:33

 Càng ngày Bẩy càng nhận thấy ở Hón phẩm chất của một người chỉ huy với những quyết sách táo bạo và hợp lí. Hình như ở anh hội tụ đủ tính cương nghị của người cầm quân biết lấy mục tiêu cần đến làm trọng. Anh biết lượng sức để lấy thế yếu của mình chế ngự thế mạnh của kẻ thù. Anh có gan tổ chức, khi thời cơ đến biết đem cái cương trường của người thắng thế ra áp đảo cái nhu thời của đối phương, để giành thắng lợi.

Nhà văn Vũ Quốc Khánh ở Phú Thọ

 

Chương XV

 

Thuận tỉnh lại lúc đêm đã về khuya. Anh đoán thế. Xung quanh tối om om. Bốn bề không gian yên tĩnh, chỉ có tiếng côn trùng rả rích như báo rằng ở đây vẫn còn sự sống. Anh nằm yên, bất động, lắng nghe con tim mình đang đập trong lồng ngực và cố gắng hình dung mình đang ở đâu, nhưng anh chịu không tưởng tượng ra được.

Anh lờ mờ nhớ rằng mình đang nằm trong chuồng cọp giữa trời. Nhưng mà không phải. Chuồng cọp nằm dưới cột đèn sáng trắng đêm cơ mà. Anh lại láng máng nhớ rằng minh đang nằm trên cát. Cũng không phải. Dưới lưng anh là lớp nệm mịn màng. Trong ký ức của anh, hình như anh bận trên mình mỗi cái xà lỏn và nhớp nháp lắm. Càng không đúng. Anh đang mặc bộ quần áo bằng vải mềm. Một tấm đắp mỏng và ấm đang ru anh ngon giấc.

Anh véo vào làn da tay. Thấy đau. Chứng tỏ những gì diễn ra bên anh là có thật, chẳng phải mê ngủ.

Kệ!

Chẳng biết đang ở đâu thì cứ ngủ cái đã. Anh lại thiếp đi.

Rồi thì anh cũng tỉnh lại thật.

Trời rõ ban ngày. Ngó ra ngoài cửa kính, Thuận thấy nắng. Nắng vàng cươm. Nhưng mà sao không thấy nóng mà lại mát rượi thế này?

Thôi chết! Bây giờ anh mới nhớ ra. Anh là tù nhân ở trại tù Phú Quốc và đang bị nhốt trong chuồng cọp, sao lại ở đây nhỉ?

Không biết.

Anh đang ở một căn phòng nhỏ, quét vôi mầu xanh nhạt, trần nhà đóng bằng gỗ, nền lát gạch hoa. Không có quạt nhưng mà mát lắm bởi có điều hòa. Cựa quậy chân tay, anh thấy không bị trói. Bộ quần áo anh mặc mầu kem, sạch sẽ, xem ra không đến nỗi nào.

Có tiếng lách cách mở cửa phòng. Anh nghển cổ. Một cô gái.

– A, anh đã tỉnh rồi! Anh đói chưa? Em lấy đồ ăn cho anh nhé!

Ừ, bây giờ thì Thuận thấy đói thật. Dạ dầy anh lép kẹp như lâu lắm chưa được cái gì bỏ vào thì phải. Cô gái bưng đến cho anh một li sữa.

Mặc!

Từ khi sa ngã, xa rời anh em đồng đội, đến lúc xác định được đường đi lối bước, Thuận đã sống trong môi trường khi nhung lụa, lúc tối tăm quen rồi. Vì thế anh cũng không vồ vập hoặc lạnh nhạt với bất cứ điều gì.

Bất giác anh nhớ tới cuốn kinh Phật anh đọc được của bầm anh hồi còn ở nhà. Bây giờ anh dửng dưng như một kẻ tu hành thờ ơ với mọi thứ trên đời.

Anh không Tham Lam, Ham Muốn một thứ gì hết, mặc dù ham muốn và tham lam là nhu cầu bẩm sinh của con người kể từ lúc biết làm người. Cứ xem cách đòi ăn thì biết, ngay từ khi mới lọt lòng con người ta đều được mẹ cho một bầu sữa nhưng lại muốn cả hai mặc dù chẳng có ai tranh giành cả. Đối với anh lúc này những cái nhỏ nhất trong cuộc sống của mình anh còn chẳng định đoạt được thì Ham Muốn và Tham Lam phỏng mang lại cho anh ích lợi  gì.

Anh cũng không còn cảm giác Nóng Giận trước mọi sự đối xử của thiên hạ đối với anh nữa, bởi thân thể anh chỉ là một kẻ thân tù thấp kém nhất rồi, đến cái tự do tối thiểu cũng không còn, vậy thì lấy gì để dọa nạt được ai mà nóng giận.

Anh cũng không Si Mê bất cứ điều gì, bởi biết rằng ở hoàn cảnh của anh si mê chỉ là cái bánh vẽ hoàn toàn ảo vọng, chẳng nên vướng víu làm chi cho bận lòng, anh có si mê cũng chẳng bao giờ được.

Tất cả những điều Tham Lam, Nóng Giận và Si Mê ấy chẳng cho anh được cái gì. Trong những lúc như thế này, chúng chỉ mang lại sự phiền toái cho anh mà thôi. Hình như cuộc đời này đã đẩy anh xô dạt về phía những tín đồ trung thành với triết lý của Phật tử. Anh thanh thản đón nhận những điều chẳng có được trong anh không một chút phiền muội.

Bây giờ anh có uống sữa hay ăn cơm, cao lương mĩ vị hay gạo mục, cá thối cũng thế. Tất cả những cái đó chỉ là các thứ để anh tồn tại trên cõi đời này. Cai ngục có đánh anh, hành hạ anh hay chăm sóc anh cũng vậy cả, bởi đó là công việc của họ. Họ làm để họ lĩnh lương nuôi vợ, nuôi con, để họ thỏa mãn khát vọng thăng quan, tiến chức của họ, đâu có ảnh hưởng gì đến anh.

Xét ra cho cùng, giữa anh và họ thì rõ ràng anh quan trọng hơn. Họ cần sự tồn tại của anh để thỏa mãn cái Tham Sân Si trong họ chứ anh đâu cần họ. Vì vậy chẳng cần vội vã làm gì. Anh cứ thủng thẳng làm cái gì anh muốn. Đối với anh, sống hay chết cũng vậy, suy nghĩ làm gì cho bận lòng!

Anh đưa li sữa lên miệng. Tự nhiên các tuyến nước bọt trong anh ứa ra. Cái dạ dầy lôi cuốn anh vào mê hồn trận của nó, thúc giục bản năng con người trong anh vùng lên đòi sự sống. Ừ thì uống, chẳng ảnh hưởng gì cả! Anh nhấp một ngụm nhỏ, sữa ngọt và mát. Anh nhấp thêm ngụm nữa, có vị béo ngậy. Cũng ngon.

Sữa làm anh tỉnh táo, tinh thần xem ra phấn chấn.

Bây giờ anh mới để ý đến xung quanh. Hình như anh ở gần bãi biển thì phải. Loáng thoáng đâu đây nghe như có tiếng sóng. Mà ngoài ấy là tự do, trong đây là tù ngục. Tự do dù khổ cực thế nào vẫn là tự do, vẫn là ánh sáng, còn tù ngục dẫu có nhung lụa cũng mãi mãi là tù ngục, là tối tăm, mù mịt. Anh muốn ra ngoài ấy lắm. Cánh thằng Hón, thằng Phiến chúng nó sướng thật. Chúng nó thà chịu đói khổ mà được tự do, chứ không lầm lỡ như Thuận để chịu tù đầy thế này.

Tự nhiên Thuận thấy rạo rực trong lòng. Cơ thể anh bỗng như có gì háo hức, nó cứ rung lên những sợi tơ ham muốn, thèm khát.

Sao thế nhỉ? Cơ thể anh còn cái gì để mà đòi hỏi nữa. Hay vì cốc sữa đã cho anh lấy lại được cái bản năng làm người đàn ông trong sự ọp ẹp, bệ rạc của thể xác?

Hình như cô gái ban nẫy lại đến. Mùi nước hoa êm dịu và quyến rũ lan tỏa đến cánh mũi của anh. Tự nhiên Thuận cảm thấy phập phồng trong ý thức. Anh nhìn cô.

Thì ra đây là một người đàn bà đẹp và quyến rũ. Cái cảm giác xa xỉ được nhìn họ lôi cuốn anh. Nó thức dậy mạnh mẽ trong anh sự đam mê, rạo rực và háo hức mà đấng tối cao đã ban phát, luôn luôn thường trực, ẩn nấp trong mỗi con người. Cơ thể anh rung lên những khát khao mà bà mụ đã thổi sinh khí vào anh tự khi mới lọt lòng. Tự nhiên, anh muốn nhìn vào cái cổ áo khoét sâu đang phô ra gần hết sự nõn nà của đôi bầu ngọc mĩ. Anh run run thèm khát. Tất cả có vẻ đang chờ đợi anh. Bên trong cái mi-ni-juyp kia là cả một kỳ công của tạo hóa, dầy dặn và nồng ấm hình như đang cố tình mời mọc anh.

Người đàn bà ấy đang mơn man nhìn anh, lả lượt khoe đôi môi man dại cùng anh. Giọng nói không gì êm dịu hơn, như thứ nước cam lồ rót vào lòng anh:

– Anh nằm xuống, em xoa bóp cho, khổ thân anh quá! Hôm vào đây tưởng anh không qua được. Em đã tắm rửa cho anh, thuốc thang cho anh mà anh nào có biết gì.

Câu nói như một lời trách cứ dịu dàng. Giọng Nam bộ nghe êm mà quyến rũ. Từ bé đến giờ hình như chưa ai nói với Thuận ngọt ngào được như thế.

– Tôi đang ở đâu?

Thuận hỏi lại. Anh thấy lòng cuộn lên những cảm xúc dâng trào tưởng chừng không gì ngăn lại được.

– Anh đang ở với em chứ còn ở đâu nữa!

Cô gái trả lời ỡm ờ, cái ỡm ờ cùng cách ăn mặc khiến lí trí Thuận phải nghi ngờ. Thế nhưng bản năng trong lòng Thuận lại cố lấp liếm lí trí, khiến anh lưỡng lự. Giữa lúc đó, đôi tay trần của cô mơn man bóp lưng cho anh. Bàn tay mát rười rượi. Chiếc áo mỏng tang và lửng lơ, đủ để anh nhìn thấy trọn vẹn cái trái đời xôn xao của tạo hóa. Cô đặt cặp chân no tròn, day day trên ngực anh. Chiếc váy ngắn cuộn lên khiến anh cảm được sự mềm êm của một vùng mênh mang khát vọng.

Giữa lúc sóng lòng Thuận bồng lên như cơn bão lũ thì cô dịu dàng:

– Anh chịu khổ mà làm gì, hãy về với em! Mấy ông quốc gia chỉ cần anh quy thuận hồi chánh là dành ngay cho anh một cuộc sống no đủ, sung túc. Sao anh không nghe họ, tội gì mà chịu khổ cực, đời người sống được bao lâu anh?

Thuận giật mình đánh thót. À thì ra là vậy. Ả kia đã lộ nguyên hình là con chim mồi xảo quyệt đang gài bẫy giăng anh. Tự nhiên cảm giác ham muốn trong anh tan ra, loãng chẩy như đám bọt xà phòng. Hóa ra cái cảm giác thèm muốn kia là chúng bơm vào anh qua cốc sữa để anh sa đà vào đó mà chiêu hồi, phản lại đồng đội. Anh như rơi từ lưng chừng đám mây dục vọng xuống vực thẳm thực tế. Những con mắt của đồng đội, đồng chí, bố mẹ, anh em và nhất là của Mậu nhìn anh, nửa như trách cứ, nửa như khích lệ động viên. Lí trí anh được thức tỉnh. Sự thức tỉnh kịp thời khiến anh co rúm người lại như con nhím bị tấn công. Anh gầm lên:

– Cút ngay!

Ả nọ vẫn mơn trớn:

– Em có làm gì anh đâu? Em yêu anh nên mới nói thế mà!

Anh kiên quyết gạt li sữa ả đưa cho khiến nó văng xuống nền nhà tung tóe. Lập tức, từ ngoài cửa mấy tên mặc quần áo rằn ri, mặt mày ngổ ngáo xông vào:

– Thằng này muốn ăn đất thì cho nó ăn đất! Sung sướng không muốn lại muốn ở chuồng cọp thì cho nó vào chuồng cọp lần nữa. Các chiến hữu, lột quần áo nó ra, tống nó vào trại!

Thì ra sau khi anh ngất đi trong cái chuồng cọp hở ấy, bọn cai ngục đã đưa anh về đây, chạy chữa cho anh, lập ra màn kịch “mỹ nhân kế” để lôi kéo anh. Khi không được, chúng lại lộ nguyên hình là hùm beo, rắn rết. Cả bọn xông vào lột trần Thuận và đấm đá anh không thương tiếc.

Rồi chúng đẩy anh vào trại tù T5.

Gọi là trại bởi đấy là một dẫy nhà lợp tôn mười gian, hai bên là hai sàn đất kê các tấm gỗ cho tù nhân nằm, lúc ít thì mỗi trại chứa khoảng trăm người tù, lúc đông lên tới trăm rưỡi. Những người tù chen chúc nhau, mỗi người nằm trên diện tích chừng hai gang bề rộng, chật đến ngạt thở.

Trại T5 là một trong mười lăm trại được địch dựng lên trên một khu đất rộng trống huơ trống hoác. Bên ngoài khu trại có nhiều lớp rào thép gai bùng nhùng kiểu Úc, giữa các lớp rào có đường tuần tra của lính. Bốn góc khu trại có bốn chòi canh của quân cảnh trực gác.

Lúc Thuận nhập trại là lúc tù nhân ăn cơm trưa. Từng người mang cà mèn của mình ra cho người chia cơm xúc vào đó chừng lưng xơi cơm gạo hẩm, một miếng cá khô bốc mùi khăm khẳm và lưng chén canh, lèo tèo vài cọng rau úa vàng nổi lều bều.

Một tù nhân đứng tuổi gầy và đen khẽ chạm vào vai anh, giọng khu bốn nằng nặng:

– Mới nhập trại à? Em tên là gì?

Một cảm giác ấm cúng giữa con người với con người dâng trào trong Thuận. Anh khẽ trả lời:

– Vâng! Em tên là Thuận.

– Anh là Bằng.

Mấy hôm sau, vào buổi chiều sâm sẩm, anh Bằng bảo Thuận cùng anh khênh thùng phân của trại đi đổ. Hai anh em vừa đi vừa tâm sự. Qua đó, Thuận biết anh Bằng có vợ con ở quê. Anh đã ở trại tù Phú Quốc ba năm, trước ở T4 mới bị địch hoán đổi sang T5 và được trại viên bầu là trại trưởng. Anh giải thích sở dĩ địch hay hoán đổi tù nhân vì sợ anh em ta đào hầm vượt ngục.

Thuận tròn mắt hỏi lại anh:

– Đào hầm vượt ngục? Sao mà đào được anh? Mà ra được ngoài biết trốn đâu cho thoát khi xung quanh đảo toàn biển là biển thế này?

– Đào được chứ em. Ở đảo này bên ngoài là rừng rậm, mà ở đâu có rừng là ở đó có du kích mình em ạ. Anh biết em là người lính trung thành với cách mạng nên cứng đầu không chịu chiêu hồi địch nên tụi nó mới dằn em vào chuồng cọp. Em có muốn vượt ngục ra ngoài không?

– Em có!

Thuận thật thà trả lời.

Thế là sau hôm đó, Thuận thấy le lói một tia hi vọng được trở về cuộc sống tự do, được cầm súng đánh quân thù. Niềm ao ước đó cứ lớn dần, nhất là một hôm anh Bằng bảo nhỏ với Thuận:

– Chi bộ Đảng nhà tù quyết định tổ chức đào hầm cho anh em vượt ngục, em ạ!

Một lần nữa Thuận lại ngơ ngác:

– Ở trong tù cũng có chi bộ hở anh?

– Có chứ em. Trên đất nước mình, Đảng có mặt ở mọi nơi. Chi bộ giao cho anh vận động em, nếu em có chí khí phấn đấu, một lòng một dạ trung thành với Đảng thì chi bộ sẽ kết nạp em vào Đảng.

– Em không xứng đáng đâu anh ạ, em là kẻ đã một lần đào ngũ.

Nói rồi Thuận kể cho anh Bằng nghe lầm lỗi của mình. Anh Bằng không những không trách cứ mà còn an ủi:

– Khuyết điểm của em là nhất thời. Cốt lõi là sau đó em đã xác định lại và thể hiện được phẩm chất của một đoàn viên. Em hoàn toàn có thể phấn đấu trở thành đảng viên cộng sản.

– Thật thế hả anh?

Thuận sung sướng hỏi lại.

– Ừ. Anh lấy danh dự của đồng chí bí thư chi bộ nhà tù Phú Quốc bảo đảm cho em, miễn là em xứng đáng!

Từ hôm đó, Thuận thấy cuộc sống dù là bị tù đầy nhưng vẫn có thể có ích. Cái cảm giác Tham, Si, Sân trong anh như một bản năng sống lại trỗi dậy. Nó khuyến khích anh, thôi thúc anh hãy sống xứng đáng với bạn bè đồng chí của anh, xứng đáng với người con của bản Mẫn quê hương anh.

***

Công việc đào hầm vượt ngục của tù nhân trại T5 bắt đầu ngay sau đó.

Việc đầu tiên là phải tìm được dụng cụ để đào hầm. Trong tù kiếm một đoạn sắt nhỏ cũng khó huống chi là cuốc thuổng. Nhưng không có thì lấy gì đào đất, chẳng lẽ dùng tay mà bới? Thế là những sáng kiến được đề ra. Người có nắp cà mèn hỏng, người có muỗng thìa giấu được, người có ca ấm cũ. Tất cả đều được bàn tay người tù khéo léo biến thành dụng cụ, thôi thì chẳng to thì nhỏ, những vật dụng ngoài đời chỉ là đồ bỏ đi bỗng chốc trong tù trở thành cuốc thuổng đào đất, xúc đất.

Rồi vị trí miệng hầm đặt ở đâu cho hợp lý. Trong tù đào được một tấc hầm đã là rất quý, cho nên miệng hầm được chọn là vị trí sát tường thẳng ra bìa rừng gần nhất. Nơi đây chỉ phải đào chừng hơn trăm mét hầm, vượt qua một trảng cỏ gianh là đã đến tự do.

Anh Bằng chọn miệng hầm làm chỗ kê tấm phản nằm. Nói thế nào anh cũng không nghe. Anh bảo:

– Nếu địch phát hiện ra, để mình tôi chịu!

Thuận xin đổi cho anh. Lý do Thuận đưa ra thật đơn giản:

– Em chưa bận tâm gì về vợ con, anh đổi cho em, có gì em xin gánh chịu!

Nhưng ý kiến của Thuận cũng chẳng lay chuyển được ý chí của anh Bằng. Vì thế mọi công việc vẫn được tiến hành như đã định. Mọi người trong trại ai ai cũng kính trọng anh.

Nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tranh của họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng

Thế rồi miệng hầm cũng được đào xong. Nó rộng chỉ vừa người chui lọt. Đất moi lên trước mắt còn ít nên được anh em đem rải mỏng lên nền trại giam rồi xoa đi xoa lại giống y chang nền đất cũ.

Ban ngày anh em ngắm kiểm tra phương hướng để khi xuống đường hầm đào không bị chệch đường.

Cứ chín giờ đêm, sau buổi điểm danh của cai ngục là công việc đào hầm bắt đầu. Mỗi tốp đào có bốn người, người thứ nhất đào, người thứ hai cho đất vào túi, người thứ ba, thứ tư lôi ra ngoài. Hầm đào sâu dưới lòng đất chừng mét rưỡi và càng xa càng được đào cao lên. Cứ chục mét lại đào một hàm ếch và có một lỗ thông hơi để lấy khí thở cho người trong hầm.

Khi đất đã nhiều anh em cho bớt vào thùng chứa phân và nước tiểu. Anh Bằng xin cai ngục cho đào thêm hố vệ sinh. Lấy cớ đó anh em chuyển đất đào hầm ra ngoài mà địch không hề nghi ngờ gì cả.

Thuận càng đào càng quen việc. Vốn mảnh người nên Thuận chui ra chui vào xem chừng dễ dàng hơn mọi người. Hơn nữa công việc đào hầm cũng không nặng nhọc lắm nên gần như hôm nào Thuận cũng xung phong xuống hầm. Đề phòng địch điểm danh bất thường anh Bằng có sáng kiến dùng dây buộc vào lon sữa bò cũ rồi ròng xuống hầm, khi có địch đến, người ở trên giật dây báo động cho anh em lên. Cũng may là hầm ở cuối nhà mà cửa trại lại ở đầu, nên mấy lần Thuận đều lên kịp.

Một hôm, anh em đang đào thì hầm bị sập. Đất cát ở trên sụt xuống bít mất một đoạn cuối hầm, Tin báo đến anh Bằng. Cơ sự này không giải quyết ngay thì đến ban ngày bọn lính đi tuần sẽ phát hiện ra. Làm thế nào bây giờ?

Thông thường “cái khó ló cái khôn“. Anh Bằng bảo anh em chịu đựng, gần sáng vấy bẩn thùng vệ sinh rồi kêu la khiến cai ngục phải mở cửa trại để tù nhân mang đi đổ. Y như rằng cai ngục trúng kế. Thuận được giao khênh thùng. Đến chỗ sụt, Thuận giả vờ vấp ngã, phân và nước giải đổ ra tung tóe, mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Bọn địch đi tuần ngang qua không dám đến gần, quát lác ầm ĩ, bắt Thuận lấp đất lên. Thế là thoát nạn. Hầm lại được đào tiếp, có điều phải đào vòng mất một đoạn.

Cuối cùng, sau hơn bốn tháng ròng rã con đường hầm bí mật cũng đã được hoàn thành. Chi bộ nhà tù quyết định tổ chức cho anh em vượt ngục. Rất nhiều người xung phong để tiếp tục cầm súng chiến đấu đánh giặc. Nhưng thời gian một đêm chỉ đủ để bốn chục người trốn thoát. Trong số những người được chi bộ lựa chọn có Thuận vì Thuận là người tích cực đào hầm chuẩn bị cho kế hoạch vượt ngục nhất. Thế nhưng Thuận chối từ, nhường cho anh em bạn tù khác về với tự do. Anh nói với anh Bằng:

– Anh để cho em ở lại, sự lầm lỡ của em trước đây đáng phải thế. Đây chính là trường đời để em gột rửa vết nhơ mà em mắc phải!

– Không, khuyết điểm của em đã hoàn toàn được xóa bỏ. Anh tin em, Đảng tin em, chi bộ nhà tù tin em và đã đồng ý kết nạp em vào Đảng. Hôm nay, trước lúc tổ chức cho anh em vượt ngục, chi bộ sẽ kết nạp em. Mong em cố gắng xứng đáng với danh hiệu người Đảng viên chân chính!

Thuận mừng đến phát khóc. Anh rưng rưng cảm động:

– Em xin thề trung thành với Đảng đến cùng! Em sung sướng quá. Đời em chưa lúc nào nghĩ được như thế này. Em đã mãn nguyện vì được Đảng tin cậy, vì đã xứng đáng với bạn bè của em, với quê hương bản Mẫn thân yêu của em.

Cố gắng nén xúc cảm trào dâng trong lòng nhưng khóe mắt của Thuận những giọt nước mắt nóng hổi vẫn trào ra. Anh nói tiếp:

– Nhưng em cũng đã quyết rồi, anh cứ để cho em ở lại, coi như đây là việc làm vinh dự đầu tiên của em khi là người Cộng sản. Biết đâu sau này em lại tổ chức cho anh em vượt ngục một lần nữa.

Anh Bằng và anh em khác lần lượt ôm hôn Thuận trước khi xuống hầm. Họ lặng lẽ trườn vào bóng tối để đến với tự do, đến với cuộc chiến đấu mới.

***

Sáng hôm sau, địch điên cuồng khi phát hiện ra đường hầm vượt ngục ở trại T5. Mọi tù nhân đều bị đánh đập dã man. Dù hết sức khó khăn nhưng cuối cùng địch cũng tìm ra người đã tích cực đào hầm cho tù nhân vượt ngục.

Thế là Thuận bị nhốt vào phòng biệt giam.

Cai ngục Sầm trực tiếp hỏi cung anh:

– Tôi biết anh là người trung thành với lí tưởng của anh. Việc các anh đào được đường hầm để tổ chức vượt ngục là việc làm quá sức tưởng tượng của chúng tôi. Tội trạng của anh thật không thể tha thứ được!

Nói rồi, hắn đưa anh đi thăm phòng tra tấn các tù nhân mà hắn gọi là cứng đầu không chịu hồi chánh của hắn. Thôi thì đủ loại cực hình tra tấn man rợ nhất mà bộ óc văn minh kiểu Mỹ đã nghĩ ra. Nào là dùng búa đánh bật móng tay tù nhân, dùng đinh ba phân đóng vào mười đầu ngón tay. Nào là lấy đinh mười phân đóng vào các khớp xương chân, dùng đục đục bánh chè khiến tù nhân còn chân mà không đi nổi, chỉ có thể lết đi như người bại liệt. Nào là dùng thước gỗ bẩy từng cái răng tù nhân, dùng ván ép ép ngực rồi siết bu-loong gẫy hết xương sườn, dập phổi khiến tù binh chết trong đau đớn. Nào là buộc dây treo chân tay cho đi tầu bay, tra điện, ngâm tù binh vào phi nước rồi dùng vồ vỗ khiến đinh tai lộng óc mà chết. Nào là dùng lửa đốt cháy bộ phận sinh dục khiến người ta sống không ra sống, chết không ra chết.

Tù nhân bị tra tấn với các nhục hình ấy, đau đớn quằn quại, rên xiết hàng ngày hàng buổi, muốn chết cho xong mà nào có được chết.

Ý đồ lớn nhất của Sầm là buộc Thuận sợ các cực hình ấy, phải hồi chánh chứ bây giờ hầm cũng đã đào rồi, tù nhân đã trốn trại rồi thì Thuận cũng chẳng còn mấy tác dụng với đám tù nhân cứng đầu cứng cổ kia nữa. Nhưng nếu buộc Thuận hồi chánh quốc gia Sầm sẽ được thăng quan tiến chức, sẽ được cao lương dầy thưởng, được thượng cấp vinh danh.

Đấy mới là mong ước của y, y cố làm cho bằng được. Bây giờ chẳng còn gì mất nữa y quyết đánh canh bạc cuối cùng, được thì được cả, nếu thua bất quá giết thêm một mạng người. Với tù cộng sản y đã giết quá nhiều, giờ có giết thêm nữa cũng không vì thế mà tội lỗi của y dầy thêm bao nhiêu.

Cai ngục Sầm ra điều kiện với Thuận:

– Tôi biết anh cứng đầu cứng cổ. Nhưng tôi cũng tiếc cho anh còn trẻ, chưa được thưởng thức những ân huệ của cuộc đời. Thế mà chết thì phí phạm quá. Mà có phải như ra trận, đòm một cái là chết ngay đâu. Kiểu chết ở đây rất đau đớn, dai dẳng anh biết rồi đấy!

Hắn dừng lại như muốn Thuận ngấm đòn đến xương tủy rồi mới nói tiếp:

– Tôi cho anh hai lựa chọn. Nếu anh chịu quy thuận chánh nghĩa quốc gia, chấp nhận hồi chánh, anh sẽ được sống cuộc sống đầy đủ. Nếu anh không chịu, tôi sẽ cho đao phủ áp dụng từng hình phạt một cho đến khi anh hồi chánh thì thôi. Chắc chắn anh không chịu nổi các cực hình ấy đến ngày thứ ba. Thôi thì đằng nào cũng hồi chánh, chi bằng hồi chánh trước cho khỏi đau đớn. Anh chọn đi!

Thuận bình thản, nhẹ nhàng đáp:

– Việc tra tấn là việc của các anh, việc có chấp nhận hồi chánh hay không là việc của tôi. Nếu có ý định hồi chánh có lẽ tôi đã hồi chánh lâu rồi không đợi đến bây giờ.

Biết không lung lay được Thuận, Cai ngục Sầm tím mặt:

– Thôi được, tôi sẽ chiếu cố yêu cầu của anh!

Nói xong hắn bắt Thuận úp tay lên bàn rồi dùng búa sắt bất thình lình nện thẳng cánh vào đầu ngón tay giữa của Thuận. Cú nện hơi chếch, móng tay Thuận lập tức bật ra chỉ còn dính tí da. Thuận thét lên đau đớn khôn cùng, rụt tay lại vẫy vẫy xuýt xoa, máu từ đầu ngón tay nhểu ra lành lạnh.

Sầm đắc ý, cười lên chuỗi cười man dại:

– Thế nào, có đau không? Mới là một ngón thôi mà. Thôi, chấp nhận hồi chánh đi anh bạn! Anh làm sao mà chịu nổi khi lần lượt cả mười móng tay của anh sẽ bị bóc ra như tôm bóc vỏ thế này.

Thuận nghiến chặt hai hàm răng đến mức cằm bạnh ra, mắt anh tóe lửa. Anh không trả lời.

Sầm không nói không rằng trừng mắt thét tên lính đứng bên lôi tay Thuận đặt lên bàn. Hắn gại gại chiếc búa lên mu bàn tay Thuận và lại bất chợt vung lên giáng mạnh xuống móng tay anh. Một chiếc móng tay Thuận lại bung ra. Cảm giác đau đớn tưởng chừng đến lộng cả óc, nhưng lần này anh kiên cường nghiến răng chịu đựng, nuốt những tiếng kêu rên vào trong lòng. Anh thầm bụng bảo dạ:

– Đằng nào tao cũng chết! Coi như tao chết rồi! Nhưng chết tao cũng không để mày hả lòng, hả dạ nữa!

Đến bây giờ anh mới thấy thấm thía những chuẩn mực về lí tưởng mà môi trường xã hội miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã giáo dục anh. Trước đây đọc sách báo, anh kinh ngạc trước hình ảnh các chiến sĩ cách mạng kiên cường vượt qua những cám dỗ vật chất, vượt qua những đau đớn thể xác, vượt qua những ham muốn dục vọng của khi phải đối mặt với kẻ thù.

Từ chỗ kinh ngạc anh cho rằng những điều ấy người ta viết ra chỉ là tô vẽ cho lý tưởng của người cộng sản chứ không có thật.

Bây giờ ở trong hoàn cảnh chịu sự tra tấn của kẻ thù từng bước từng bước một, từ khắc nghiệt này đến khắc nghiệt khác đã tạo cho anh khả năng chịu đựng. Câu nói của các chiến sỹ cách mạng mà anh đọc được ở đâu đó “Nhà tù của địch đúng là trường học giáo dục lý tưởng cho ta” đang được anh chiêm nghiệm bằng thực tế. Cái nghị lực mà anh được tiếp thu thoạt nghĩ chỉ là vô hình vô dạng thì bây giờ tự nhiên trở thành nguồn sức mạnh thực sự trong anh, nâng đỡ anh lên. Lắm lúc chính anh cũng tự hỏi: tại sao anh có thể giữ vững khí tiết trước cực hình của kẻ thù như vậy? Cái gì là động lực cho anh? Và anh tự kiểm chứng và trả lời: đó chính là những bài học về tình yêu quê hương đất nước mà anh đã được học từ những ngày thơ bé.

Tất cả những điều đó thấm trong huyết quản của anh cũng như thấm trong mỗi người thanh niên khác, tạo ra trong mỗi người một bản lĩnh. Bình thường không ai nhận ra bản lĩnh này, nhưng khi rơi vào hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng như anh thì bản lĩnh ấy mới trỗi dậy, hình thành sức mạnh giúp mọi người vượt qua giông tố. Giống như con tầu được thiết kế chuẩn, vững chắc thì dù to lớn bao nhiêu cũng không thể bị nước nhấn chìm, trong khi một thỏi sắt tuy nhẹ bẫng, nhưng khi ném xuống nước lập tức bị chìm nghỉm bởi quy luật lực và phản lực.

Thuận đã trở thành Đảng viên Cộng sản. Khí tiết của người Cộng sản đã giúp anh vượt qua mọi sự tra tấn của kẻ thù giống như con tầu kia được thiết kế chắc chắn. Dẫu nước có thể nhấn chìm mọi thứ nhưng không thể nhấn chìm con tầu có phản lực luôn cân bằng với trọng lực của nó. Cơ thể con người cũng vậy, bạch cầu ở trong máu luôn có khả năng chống lại mọi sự tấn công của vi-rút gây bệnh, tạo ra kháng nguyên, khi đủ sức, cơ thể sẽ được miễn dịch với bệnh tật. Lí tưởng đã thấm vào máu người Cộng sản khiến anh tạo ra được kháng nguyên, chống được mọi sự hành hạ, mua chuộc của kẻ thù. Bây giờ nhờ có chất “kháng nguyên miễn dịch” đó mà kẻ thù đàn áp anh bao nhiêu thì tự khắc trong anh sinh ra phản đàn áp bấy nhiêu, đủ sức giữ anh không bị sự đàn áp của kẻ địch nuốt chửng.

Anh không kêu rên khiến cho Sầm càng điên tiết, cặp mắt ốc nhồi trắng dã của hắn long lên sòng sọc. Hắn cứ thế vung búa và liên tiếp giáng xuống theo những tiếng gầm của hắn:

– Gan này. Gan này!…

Sau mỗi tiếng gầm của hắn là một cái móng tay của Thuận long ra. Nỗi đau đớn của Thuận cứ xối xả hết đợt này đến đợt khác. Đầu óc anh tưởng như nổ tung, nhão chẩy như bị bóp nát. Cuối cùng cả mười đầu ngón tay của anh nát tươm, nhoe nhoét máu. Máu nhểu ra đỏ lòm cả mặt bàn tra tấn. Mắt Thuận hoa lên, anh gục xuống mê man bất tỉnh.

Trước khi ngất, anh còn nghe thấy cai ngục Sầm chửi đổng:

– Đ ..mạ mi! Thần kinh của mấy thằng cộng sản này bằng thép hay sao mà giỏi chịu đựng vậy?

Rồi hắn quát lính:

– Thôi tau mệt với thằng ni quá trời rồi, hôm nay hãy dừng ở đây đã! Ném nó về phòng giam! Mai tính tiếp.

Hơi đất ẩm khiến Thuận tỉnh lại. Đêm hôm ấy, các ngón tay anh sưng tấy lên tựa  những trái chuối mắn, nhức nhối như có ai sát muối. Anh đau đớn, nước mắt cứ thế trào ra mặn chát đôi môi nứt nẻ. Anh muốn được chết để khỏi phải chịu những nỗi đau khủng khiếp dày vò anh mà không có cách nào chết được.

Bỗng nhiên anh thèm được gặp bố bầm. Giá như bây giờ anh được xà vào lòng bố bầm mà khóc cho thỏa thích thì còn gì bằng. Từ bé đến giờ, anh chưa bị bố bầm đánh đến nửa cái roi. Anh nhớ có lần đi học về đói bụng, anh hấp tấp trèo cầu thang bị ngã thâm tím chân tay, bầm anh khóc đỏ hết cả mắt, còn bố bỏ không uống rượu cả ngày, mặt buồn rười rượi. Hôm nay, giá như bố bầm nhìn thấy anh thế này chắc không sao sống nổi. Anh nhớ hôm đi gùi hàng nặng, thấy anh loạng choạng, Hón và anh em xúm lại mỗi người mang đỡ anh một ít, thế mà về đến đơn vị mọi người lại lăng xăng hòa nước muối ấm bóp chân cho anh. Thương anh em quá! Liệu anh còn cơ hội gặp lại mọi người không nhỉ?

Thuận muốn báo tin cho Hón và Phiến là Thuận đã được kết nạp vào Đảng rồi. Thuận đã là đồng chí của Phiến và Hón, đã xứng đáng là chàng trai bản Mẫn chứ không còn yếu đuối như xưa nữa.

Nghĩ đến đây Thuận thấy mình vững tin hơn. Nỗi đau còn đó nhưng có phần dịu đi. Anh như được tiếp thêm sức mạnh. Bóng dáng bố bầm như hiện lên động viên anh. Nỗi nhớ bè bạn như nâng đỡ anh. Lời thề trước Đảng như thôi thúc anh. Đôi mắt của Mậu như trìu mến nhìn anh. Anh bỗng tin ở mình hơn bao giờ hết. Anh phải sống, sống để đấu tranh vì lí tưởng của Đảng! Sống để xứng đáng với gia đình và quê hương! Sống để còn gặp đồng đội, bạn bè trong ngày chiến thắng!

Hôm sau, cai ngục Sầm lại cho lính lôi Thuận lên phòng tra tấn.

Hắn nói luôn:

– Không lẽ tau chịu thua mấy thằng cộng sản chúng mi à!

Không đợi cho Thuận kịp trả lời hắn xỉa ra bàn nắm đinh mười phân to thô lố:

– Tau sẽ cho mi bò không bò được, để phải  bỏ ý nghĩ vượt ngục.

Thế là hắn ướm chiếc đinh vào khớp gối Thuận và bất chợt dùng búa giáng mạnh. Chiếc đinh đâm xuyên lút từ bên này sang bên kia gối. Xương bánh chè anh vỡ lạo xạo. Thuận choáng váng đau đớn đến lộng óc, mắt đổ hoa cà hoa cải, chân cẳng như muốn rụng rời, tim loạn nhịp như muốn nhẩy ra khỏi lồng ngực. Anh cắn vào môi đến bật máu.

Sầm rống lên:

– Chưa hết đâu!

Nói rồi hắn lại nhử nhử chiếc đinh vào bên gối còn lại và lại giáng mạnh. Thuận không chịu được nữa. Anh hộc lên một tiếng rồi vật xuống, ngất đi, không biết gì nữa.

Con mãnh thú Sầm chu lên một tiếng ghê rợn.

Tranh của họa sĩ Tạ Quang Bạo

Chương XVI

 

Hón được Tỉnh đội đề bạt đại đội phó đại đội hậu cần sau những chiến công ở Hà Tam. Anh không những đã hoàn thành nhiệm vụ vận động, tổ chức đồng bào cung ứng quân lương cho bộ đội, mà còn cùng chi bộ Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của Hà Tam. Khí thế của nhân dân lên cao, lấn át địch. Đồn lính canh ở đồn điền Phú Tam thực sự hoảng loạn sau trận đánh chống càn, buộc phải theo sự áp đặt của quần chúng cách mạng, trở thành lực lượng ủng hộ giải phóng. Lính ngụy ở đồn Núi Vũ bị phân tâm, già nửa khiếp nhược, manh nha tâm lí phản chiến.

Giữa lúc đó, Bẩy Tiền và Hón được lệnh của Tỉnh đội triệu tập gấp lên gặp Tư lệnh sư đoàn Chu Lai để bàn công việc hiệp đồng chiến đấu.

Khi hai người lên đến sở chỉ huy dã chiến của sư đoàn thì đã thấy tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn có mặt tại đấy rồi. Tỉnh đội trưởng giới thiệu với sư đoàn trưởng:

– Đây là cặp bài rất ăn ý trong việc cung ứng hậu cần cho toàn tỉnh đội của chúng tôi. Không những thế các đồng chí đó còn có khả năng lấn lướt địch, vừa lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, vừa ép địch bằng cả sức mạnh quân sự và cả sức mạnh tinh thần.

Tỉnh đội trưởng quay sang giới thiệu với Bẩy và Hón:

– Còn đây là sư đoàn trưởng sư đoàn Chu Lai, người khiến địch phải run sợ gọi là “con hùm xám” Tây Nguyên.

Sư đoàn trưởng Nguyễn nở nụ cười thân mật như gắn bó với Bẩy và Hón tự bao giờ. Ông bắt tay từng người. Giọng ông đục và khàn, âm lượng phát ra như được trộn với lửa khói chiến trận nhưng ấm cúng, đầy tình nghĩa:

– Cho mình gửi lời chào đồng bào Hà Tam, đặc biệt thăm bà Hai Thái Bình nhé!

– Thế ạ, sư đoàn trưởng biết bả ạ?

– Biết chớ, mình đã ăn mòn bát, mòn đũa nhà bả và ông Năm Long mà.

– Dạ, chúng em sẽ thưa lại!

– Bây giờ ta bàn vào việc chính. Tới đây bộ đội giải phóng sẽ tổ chức đánh địch quyết liệt hơn tiêu diệt căn cứ Núi Cấm của chúng. Sư đoàn cần có đủ lương thảo nuôi quân. Hiện nay lực lượng hậu cần của sư đoàn đang gặp khó khăn, cần huy động lực lượng tại chỗ chừng hai trăm tấn gạo để kịp tiến độ đánh địch. Các đồng chí giúp sư đoàn được không?

Bẩy và Hón cùng bật dậy hỏi:

– Thời gian bao lâu ạ?

– Từ nay đến lúc tập kết đủ tại tổng kho Làng Mười là năm ngày.

Tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn nói thêm:

– Biết rằng bà con đang vào vụ giáp hạt nhưng Tỉnh đội không thể không giúp sư đoàn, giúp sư đoàn tiêu diệt căn cứ xương sống của Mỹ ngụy thực chất là giúp chính mình để mở rộng vùng giải phóng của tỉnh. Thời gian gấp gáp và công việc hết sức khẩn trương, các đồng chí phải mở rộng địa bàn hoạt động ra các thành phố quanh Quảng Nam mới kịp. Tài chính sư đoàn sẽ cung ứng nhưng chắc chưa đủ, vẫn cần sự hỗ trợ của đồng bào. Đây là công việc rất khó, các đồng chí có một tiếng đồng hồ bàn bạc để trả lời sư đoàn trưởng!

– Dạ!

Sư đoàn trưởng Nguyễn và tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn kéo nhau sang phòng bên hội ý để Bẩy và Hón ở lại bàn bạc. Bẩy thầm thì giọng đầy lo lắng:

– Anh thấy công việc thế nào? Em thấy đuối sức quá à! Liệu mình có gánh được không hè?

– Hai trăm tấn gạo tức là khoảng bốn chục xe đò nhỉ?

– Vâng! Mà không phải giao ở Hà Tam đâu. Từ đây lên làng Mười còn là cả một chặng đường xa, ngoài căn cứ Núi Vũ còn ba đồn bốt địch án ngữ dọc đường nữa.

– Mua đủ số gạo đó tại các thành phố, thị xã địch chiếm có thể thực hiện được, cái khó là khâu đảm bảo bí mật và khâu vận chuyển đến địa điểm tập kết.

– Anh nghĩ ra cách gì chưa chứ em thấy bí quá ta! Trước đây mình thu mua vài chục tấn trong cả tháng còn lừa mắt địch được chớ bây chừ …

Bẩy bỏ lửng câu nói trong tâm trạng rối bời.

– Hón định …

Đến lúc Hón băn khoăn. Một phút trôi qua mà sao Bẩy thấy lâu quá vậy. Cuối cùng Bẩy phải giục:

– Hón nói đi! Hón làm em sốt ruột quá trời luôn.

– Hón nghĩ mình phải phát huy kinh nghiệm vận chuyển quân lương qua trại lính Phú Tam, giải tỏa sự khống chế của địch ở tất cả các căn cứ án ngữ, mở thông tuyến đường vận chuyển từ Hà Tam lên Làng Mười. Đối với những đồn chưa xử lí được bằng binh vận thì phải căng địch ra mà đánh buộc chúng phân tán lực lượng, không còn sức nhòm ngó đến việc vận chuyển của ta.

– Nhưng lấy lực lượng ở đâu mà đánh địch?

– Việc này phải đề nghị tỉnh đội sử dụng các tiểu đoàn chiến đấu của tỉnh. Đại đội vận tải của ta tập trung cùng các hạt nhân cơ sở, trong đó lấy Hà Tam làm trung tâm tổ chức thu gom lương thực không chỉ ở địa phương mà phải tung lực lượng ra Đà Nẵng, vào Tam Kỳ, nếu sư đoàn cấp và nhân dân ủng hộ đủ tiền mua quân lương thì chỉ ba ngày ta có thể thu gom đủ theo yêu cầu của sư đoàn.

– Ồ, anh tính toán rất chu đáo, hết phần của em rồi đó nghen!

– Tất nhiên việc này phải có ý kiến thống nhất của tỉnh đội.

– Dạ, tí nữa anh trình bầy với chú Sáu Ngạn hè!

Bẩy Tiền âu yếm nhìn Hón.

Càng ngày Bẩy càng nhận thấy ở Hón phẩm chất của một người chỉ huy với những quyết sách táo bạo và hợp lí. Hình như ở anh hội tụ đủ tính cương nghị của người cầm quân biết lấy mục tiêu cần đến làm trọng. Anh biết lượng sức để lấy thế yếu của mình chế ngự thế mạnh của kẻ thù. Anh có gan tổ chức, khi thời cơ đến biết đem cái cương trường của người thắng thế ra áp đảo cái nhu thời của đối phương, để giành thắng lợi. Điều đó không chỉ bớt hi sinh cho ta mà còn bớt cả đổ máu cho địch. Hình như trong con người anh, ta và địch chỉ là khái niệm mang tính ý chí, còn lại vẫn mang nặng tình người. Các trận chiến đấu vừa qua cho thấy anh thiên về đánh thắng địch bằng thế, chứ không thắng bằng cách giết nhiều người không cùng chiến tuyến. Phải chăng đó là tâm thế của anh trong cuộc chiến này?

Hón biết vận dụng phương châm “Bám thắt lưng địch” của một người thượng võ. Cứ xem trận chống càn vừa rồi ở Hà Tam thì thấy. Khi sức liên quân Mỹ ngụy đồn Núi Vũ đang hăng, nếu ai sợ, không dám đến gần địch thì máy bay, phi pháo địch có thừa lực công kích sát thương. Nhưng Hón thì khác, Hón biết lựa thời bám địch, khiến pháo địch không dám bắn vì sợ “Pháo mi lại bắn vào lưng mi”. Hón cho anh em vừa đánh vừa lùi, dụ địch vào bãi mìn để vỗ mặt, khiến địch sợ mà lui binh. Khi đã hoảng loạn, lập tức địch sa vào thế phục kích vu hồi của anh. Thế là ý chí của đối phương bất ngờ bị tan như bong bóng xà phòng, địch buộc phải tháo chạy. Mặc dù tháo chạy nhưng chúng cũng không dám dùng sức mạnh của phi pháo để chế ngự ta, bởi còn lính Mỹ bị thương và chết nằm tại chiến trường.

Hón đánh giặc mà như chèo thuyền trên nước lũ, lúc nào cũng ở trên thế nước. Hón dám cùng mệ Hai xông vào đồn điền Phú Tam, dùng uy của người thắng dọa kẻ non gan đang hoảng loạn, khiến chúng “thần hồn nát thần tính”, phải chấp nhận để nhân dân qua mặt chuyển quân lương cho cách mạng.

Thế là đạn không mất một viên, người không đổ một giọt máu mà vẫn áp chế được kẻ thù. Đồn địch còn mà hóa mất, lại còn trở thành lá chắn bảo vệ ta.

Giống như người đánh cờ, Hón biết dùng thế thủ có mưu lược của mình chế ngự thế công, khiến đối phương buộc phải bộc lộ điểm yếu trong cách điều xe, khiển pháo. Thế là Hón ung dung đem tốt vây thành buộc đối phương thua trận.

Và bây giờ cũng vậy, bài toán tập trung và vận chuyển quân lương sẽ có lời giải khi Hón “căng địch ra mà đánh”.

Đúng là Hón biết cầm quân, lại có phong thái “Nhàn”. Phải chăng, chính phong thái đó đã tạo ra bản lĩnh đàn ông khiến cho Bẩy si mê Hón đến độ “chết mê chết mệt” thế này.

Nhiều lúc Bẩy tự hỏi mình: “Hón ơi, Hón có biết em yêu Hón đến thế nào không?”

Có những đêm, Bẩy mơ thấy được ở bên Hón, được thổ lộ hết nỗi lòng để cho Hón biết rằng ngoại trừ những lúc bận công bận việc, còn lại Bẩy nhớ Hón cả lúc ăn lúc ngủ, cả lúc bận lúc rỗi.

Bẩy nhớ Hón đến mức trăng lên quên ngắm, con nai giác quên nghe, lội qua suối nước trong không nghe tiếng róc rách reo vui, đi đường rừng vắng không nhìn đóa hoa nồng nàn khoe sắc.

Con mắt Hón như biết thôi miên Bẩy. Hón quay sang trái Bẩy muốn đi về phía trái, quay sang phải Bẩy muốn có luôn ở đằng bên phải. Bẩy ngơ ngẩn cùng Hón như tự bảo mình Hón là của Bẩy. Bẩy không thể hình dung không có Hón Bẩy sẽ thế nào? Không biết Hón có hình dung ra được không chứ Bẩy thì đúng là Bẩy chịu.

Bẩy da diết nhìn Hón.

Ở đây là sở chỉ huy sư đoàn, bao nhiêu con mắt cấp trên để ý, chứ nếu ở chỗ khác có lẽ Bẩy không thể giữ được lòng mình. Bẩy muốn chạy đến ôm ghì lấy Hón, muốn tỏ cùng Hón tình yêu say đắm của mình còn sau đó mặc kệ, muốn ra sao thì ra. Chưa bao giờ Bẩy thấy lòng mình man dại và cũng chưa bao giờ Bẩy thấy mình quyết liệt như thế này. Hón ơi là Hón!

Giữa lúc đó sư đoàn trưởng và tỉnh đội trưởng bước vào.

Nhìn thấy Hón đăm chiêu dáng chừng đang tập trung suy nghĩ, tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn băn khoăn:

– Khó dữ hè! Tìm ra được cách gì chưa vậy ta?

Bẩy nhanh miệng:

– Đồng chí Hón đã có cách, đang chờ xin ý kiến thủ trưởng ạ!

Sư đoàn trưởng hồ hởi:

– Thế thì tốt rồi, đồng chí cứ trình bầy, có gì ta cùng bàn thêm!

Hón trình bầy kĩ càng kế hoạch với cấp trên.

Kế hoạch của anh sẽ có hai bước:

Bước một, đại đội vận tải sẽ tập trung lực lượng cùng các hạt nhân ở cơ sở tổ chức vừa vận động thu gom gạo, tiền bạc ủng hộ của nhân dân, vừa thu mua quân lương ở các vùng địch tạm chiếm, sao cho trong ba ngày phải đủ số lượng sư đoàn trưởng yêu cầu.

Bước hai, đêm ngày thứ tư, tiểu đoàn chiến đấu của Tỉnh đội sẽ uy hiếp các căn cứ địch trên dọc tuyến đường Hà Tam đi Làng Mười. Binh vận được thì binh vận, không binh vận được thì đánh tiêu diệt, tạo điều kiện cho các xe hàng của ta chuyển gạo lên kho của sư đoàn.

Như thế sau năm ngày đại đội vận tải sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

Tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn nghe xong tỏ ý phân vân và cũng là cách khơi dậy tính tự chủ của cấp dưới:

– Hiện tại, cả bốn tiểu đoàn chiến đấu của tỉnh đang tập trung kìm chế địch phản kích tại các căn cứ vừa chiếm được của địch. Vì vậy nếu rút bớt ra đánh các đồn bốt trên đường vận lương của các đồng chí sẽ không đảm bảo an toàn cho các căn cứ đang giữ.

Bỗng Bẩy Tiền bật dậy:

– Hay là dùng lực lượng du kích các xã vây hãm?

– Du kích xã làm sao đủ sức đánh chiếm các đồn bót này?

Hón ngẫm ngợi một lát rồi chậm rãi:

– Em nghĩ ý kiến đồng chí Bẩy cũng có thể thực hiện được. Hiện nay, tinh thần binh lính ở các đồn bót này đang suy sụp. Ta chỉ cần dùng một lực lượng nhỏ bộ đội chủ lực mạnh để lấy danh còn lại kết hợp với du kích địa phương tấn công tiêu diệt đồn bót cứng đầu nhất. Quân địch đêm hôm đồn nào phải lo đồn ấy, không thể ứng cứu cho nhau được nên các đồn bót còn lại ta sẽ kêu gọi binh lính ngụy phản chiến. Chịu thì thôi, không chịu ta lại dồn quân áp chế tiếp.

Tỉnh đội trưởng thống nhất:

– Nếu thế thì được. Ngày mai tỉnh sẽ rút mỗi tiểu đoàn chiến đấu một trung đội về phối hợp với du kích các xã trong vùng để trinh sát, điều nghiên lập kế hoạch khống chế các đồn bốt này.

Hón rụt rè:

– Thưa sư trưởng. Con trai bà Hai bây giờ là đồn trưởng đồn Núi Vũ, tinh thần anh ta đang chán nản, không muốn tham chiến. Trận càn vào Nam Hà Tam vừa qua anh ta cáo bệnh không tham gia. Em muốn xin sư trưởng vài chữ về khuyên anh ta phản chiến.

– Thế à, thế thì tốt! Tớ sẽ ghi thư ngay. Núi Vũ là căn cứ Mỹ kép mạnh. Nếu đồn trưởng phản chiến, ta sẽ đỡ phải điều thêm quân tấn công.

– Dạ!

Chợt có một giọng hát ví Mường mượt mà từ xa vọng lại. “Đi đâu mà vội mà vàng/ Dừng chân đứng lại ăn nang ăn trầu/ Ăn rồi xin nhớ đến nhau/ Đừng như vôi bạc mà sầu lòng em”.

Câu hát thật tình tứ, ý nhị. Hón biết đó là những câu hát của người Mường trong những lễ hội mùa xuân, nơi có sự thách đố giữa các nhóm trai gái. Cũng có khi là lời ca đối đáp trên nương rẫy. Người bên kia suối cất tiếng hát “ra lời”, người bên này “bắt tín hiệu” và đối lại. Câu hát qua, lời đối lại xua bớt đi nỗi vất vả của công việc, gắn kết thêm tình người.

Cái chất giọng này Hón nghe quen quen, vừa mềm mại, vừa thiết tha, đầm ấm. Anh đảo mắt ngước nhìn về phía nơi phát ra tiếng hát.

Động tác xoay người của Hón không qua được mắt sư đoàn trưởng:

– Hình như đồng chí Hón thích nghe bài hát này?

– Thưa sư trưởng, đây là bài hát ví của dân tộc Mường chúng em ạ.

– Thế à? Đấy là đơn vị văn công quân khu vừa mới về sư đoàn biểu diễn cho các đơn vị. Để tớ bảo anh chị em sang biểu diễn phục vụ các đồng chí một vài tiết mục.

– Thôi ạ. Công việc đang bận, xin cho chúng em về ngay kẻo tối!

Bẩy ý tứ xin phép.

– Ôi dào, nửa tiếng nữa hãy về! Mấy khi giữa chiến trường bom rơi đạn nổ mà được nghe văn công Quân khu biểu diễn. Các đồng chí chờ một chút.

Nói rồi sư trưởng gọi đồng chí liên lạc.

Lát sau, đội văn công lục tục kéo sang biểu diễn ngay tại lán của sư trưởng. Họ ríu rít hát các bài ca ngợi những người lính Trường Sơn, về sự hi sinh đóng góp của đồng bào các dân tộc Thượng cho cách mạng. Hón nghe như nuốt từng lời. “Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn/ Hai đứa ở hai đầu xa thẳm/ Đường ra trận mùa này đẹp lắm/ Trường Sơn Đông nối Trường Sơn Tây”

Hết bài hát, cô văn công có nụ cười xinh và đôi lúm đồng tiền duyên dáng tươi cười hỏi Bẩy:

– Chị ơi, chị thích nghe bài nào để em phục vụ!

Bẩy cũng cười:

– Tui chỉ biết gùi đạn, gùi gạo thôi, chưa bao giờ được nghe văn công Quân khu hát. Chị xem có bài nào hợp xin chị một bài!

– Thế em hát bài “Em là hoa pơ-lang” chị nhé!

– Dạ, nhưng có phải hoa pơ-lang là hoa gạo không chị?

Sư đoàn trưởng đỡ lời:

– Đúng thế! Vùng đồng bằng kêu bằng hoa gạo, vùng Tây Nguyên gọi là hoa pơ-lang đó.

– Dạ, chúng em đến các buôn của đồng bào thấy hoa này nhiều lắm.

Cô văn công cất giọng. Lời ca của người viết đã hay mà giọng người hát lại cao và sáng làm cho không gian như díu lại, khiến người nghe không khỏi nao lòng. “Tây Nguyên ơi, hoa rừng bao nhiêu thứ/ cánh hoa nào đẹp nhất rừng/ Tây Nguyên ơi ơi. Anh có nhớ buôn làng/ nhớ người con gái/ nhớ cánh hoa pơ-lang đẹp nhất rừng Tây Nguyên/ Tây Nguyên ơi… ơi, quê hương ơi… ơi/ Lòng nhớ anh em chờ như đá bên dòng suối/ dù nước cuốn không rời bên bờ đâu anh ơi/  có thương nhau xin nhớ lời.”

Cô văn công luyến láy đến đôi lần câu “ Lòng nhớ anh em chờ như đá bên dòng suối/ dù nước cuốn không rời bên bờ đâu anh ơi/ có thương nhau xin nhớ lời” như một lời nhắc nhở, như một lời thỉnh cầu đầy ân tình, nghĩa cả khiến lòng Hón không khỏi xao xuyến, bồi hồi. Anh bất chợt nhớ về Mậu, người con gái anh yêu. Anh thầm nghĩ, anh mãi mãi xứng đáng với tình yêu của em, mãi mãi nhớ lời thề bồi cùng em nơi bản Mẫn yêu quý.

Bài hát đã kết thúc rồi mà dư âm của nó vẫn còn đọng lại, khiến không gian như dòng thác đổ xuống vụng, lưu luyến, quẩn quanh mãi mới theo dòng về suối lớn.

Bất chợt như nhớ ra điều gì sư trưởng Nguyễn vội hỏi:

– Còn bài hát ví ai đó vừa hát, sao các đồng chí chưa biểu diễn.

– Dạ thưa, bài hát ấy do đồng chí Thúy Mẫn hát, nhưng không nằm trong chương trình phục vụ của đoàn ạ.

– Không sao, đồng chí Hón đây muốn nghe, tôi thấy đồng chí ấy có vẻ thích lắm. Mời đồng chí Thúy Mẫn ra biểu diễn nhé! Ngày mai, các đồng chí này sẽ sống trong đạn lửa trước kẻ thù. Tôi muốn tiếp thêm tình yêu quê hương cho các đồng chí.

– Dạ!

Tự nhiên Hón thấy bồn chồn. Tại sao cô diễn viên này lại có tên trùng với bản Mẫn của Hón? Tại sao người này lại hát giọng hát ví quê Mường của Hón. Ruột anh bỗng nóng như có lửa đốt. Mắt anh nháy liên tục như nghe chim khách báo tin có người thân sắp đến nhà vậy.

Cô văn công quân phục đã bạc mầu, đầu đội mũ tai bèo lấp ló ngoài lán. Hón càng thấy bóng dáng thật quen.

– Dạ, em chào sư đoàn trưởng, chào các anh chị!

Cô quay lại. Bốn mắt gặp nhau. Cô văn công bỗng ngẩn người:

– Anh Hón!

– Mậu! Sao Mậu lại ở đây?

Hón lao đến ôm chặt người yêu trong tay. Mậu cũng không kịp để ý đến mọi người, ào tới, mềm người trong vòng tay của Hón.

Mọi người ngơ ngác. Hón vội reo lên phân bua:

– Thưa thủ trưởng, đây là cô Mậu, người yêu của em!

– Ô, thế à? Gặp nhau ở chiến trường thế này thì vui quá nhỉ?

Rồi sư đoàn trưởng quay lại nói với mọi người:

– Thôi, ta nhường chỗ này cho đôi bạn trẻ! Được không anh Sáu?

– Đồng ý, nhưng thời gian cho hai đồng chí chỉ được ba mươi phút thôi nhé! Sau khi hoàn thành công việc sư đoàn trưởng giao cho, Tỉnh đội và sư đoàn sẽ thu xếp cho đồng chí Hón và đồng chí Mậu gặp nhau mấy ngày, tha hồ mà tâm sự. Được không?

– Rõ!

Mọi người lui ra ngoài. Trong căn lán, chỉ còn Hón và Mậu. Họ xiết chặt nhau trong vòng tay yêu thương và mong nhớ. Mậu nép vào lòng Hón thổn thức:

– Anh vào chiến đấu ở đây à? Có nhớ em không?

– Anh vào Trường Sơn ngay sau đợt về phép ấy. Đánh nhau rồi lo hậu cần cho bộ đội miết đến giờ. Nhớ em nhiều lắm! Em có nhớ anh không?

– Em nhớ anh nhiều mà! Ngày nào cũng nhớ, chả ngày nào không!

– Anh cũng vậy!

Hón chưa kịp hỏi thăm gì về bầm thì Mậu đã hôn như mưa, như gió vào mặt anh. Mắt Mậu đầm đìa nước. Đôi môi mọng chín của Mậu tìm môi anh. Nghiến ngấu. Nồng nàn. Đắm đuối. Hón cũng đáp lại. Man dại. Cuồng si. Da diết.

Không ai nói với ai câu nào. Họ như đôi chim công quấn quýt bên nhau sau bao mùa xa cách, như đôi hoàng mang vần vũ cùng nhau cho bõ những năm tháng ngóng chờ. Không còn khoảng cách nào giữa hai bầu ngực nóng. Bàn tay đan chặt. Đôi chân áp sát. Hai con tim đổ dồn thình thịch. Hơi thở gấp gáp và hổn hển.

Thời gian và không gian câm lặng như chết.

Rồi họ cũng đến lúc hiểu rằng, ba mươi phút không phải là vô tận.

Mậu thủ thỉ kể cho Hón nghe, sau thời gian học ở trường văn hóa, cô được tuyển vào đoàn văn công Quân khu. Chính điệu hát ví quê Mường đã tạo cho Mậu chỗ đứng trong đoàn. Nhưng chiến tranh càng ác liệt, nhiệm vụ phục vụ các chiến sĩ đã đưa Mậu gắn bó với phòng chính trị Quân khu. Mậu đã đi khắp dẫy Trường Sơn từ A Sầu, A Lưới qua Khâm Đức, Trà My, Trà Bồng. Mậu đến những cánh rừng Ngọc Linh với bao nhiêu huyền thoại, rồi vượt sông Sê-rê-pôk đến các đơn vị chiến đấu, đến các thương binh ở các trạm phẫu tiền phương.

Hón cũng kể cho Mậu nghe chuyện của mình, về Phiến và Thuận. Anh kể cho Mậu nghe tin Thuận bị địch bắt nhưng không chịu chiêu hồi, không phản lại đồng đội. Rồi nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ bầm, nỗi nhớ Mậu. Họ bịn rịn buông tay nhau ra khi có tiếng đằng hắng của sư đoàn trưởng Nguyễn ở ngoài.

Mọi người bước vào lán. Hón kéo Mậu lại gần Bẩy giới thiệu:

– Đây là chị Bẩy Tiền, đại đội trưởng của anh.

– Chào chị Bẩy!

– Chào đồng chí Mậu!

– Nhờ chị giúp đỡ anh Hón hộ em!

Bẩy bắt tay Mậu, Mậu đáp lại. Bàn tay Bẩy như run rẩy bấu vào tay Mậu.

Sư đoàn trưởng chủ động:  .

– Đồng chí Hón phải cám ơn tớ đấy nhé! Không có nhiệm vụ của sư đoàn thì các cậu làm gì có dịp gặp nhau. Đúng không?

– Vâng ạ!

Tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn tiếp lời:

– Thế thì cậu phải cố hoàn thành nhiệm vụ sư trưởng giao cho nghen! Bây giờ chia tay được chưa hè?

– Vâng, được rồi ạ!

Hón quay lại bảo Mậu:

– Em ở lại, anh đi!

– Anh đi nhớ giữ gìn sức khỏe nhé!

Mậu rưng rưng đáp lại.Hai người bịn rịn chia tay nhau.

Hón gằn bước đuổi theo Bẩy Tiền đang phăm phăm ở phía trước.

Đằng sau, xa, tiếng hát của người chiến sĩ văn công vút lên như lời chào tạm biệt họ, hẹn những mùa vui chiến thắng.

“Đăk-Krông ơi, Tây Nguyên ơi/ Cái suối đổ về sông, cái sông ra biển lớn/ Ta nối tấm lòng dân bằng tình yêu Cách mạng, đi suốt Truờng Sơn xanh, nghe dòng sông chảy mãi/ Đăk-Krông ơi, dòng sông xanh thắm”.

***

Bẩy Tiền lầm lũi đi như chạy trên con đường mòn xuyên qua cánh rừng le đổ về hướng Hà Tam. Từ lúc bất ngờ gặp đoàn văn công tại lán của sư đoàn trưởng Nguyễn đến giờ, chứng kiến cảnh Hón gặp người yêu, Bẩy bàng hoàng người như lên cơn sốt. Sự choáng váng ập đến tựa cơn sóng lừng, tấp lên cái mong manh của Bẩy, khiến Bẩy hụt hơi, mặt tái đi, mồ hôi túa ra, mồm miệng đắng ngắt. Khi sư trưởng bảo ra ngoài dành căn lán cho Hón và Mậu, Bẩy ù hết cả tai, chẳng hiểu sư đoàn trưởng bảo gì. Đến lúc tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn cầm tay kéo đi Bẩy mới tinh tỉnh, loạng choạng đứng lên, bước theo. Tỉnh đội trưởng phải hỏi:

– Đồng chí Bẩy làm sao thế ni. Sốt à?

– Dạ, em sốt!

– Gay nhỉ? Đang nước sôi lửa bỏng thế ni mà sốt thì nguy to hè!

Bẩy chẳng biết trả lời ra sao, đành nương theo ý thủ trưởng, ấp úng trả lời bừa, cốt cho xong chuyện:

– Không răng đâu ạ. Em đã mang thuốc phòng đây rồi. Chắc tí nữa sẽ đỡ thôi hà!

Bây giờ, Bẩy vẫn thấy nghẹn trong cổ.

Sự thật sao tàn ác thế! Hón không hề nói với Bẩy là Hón đã có người yêu và Bẩy cũng chưa bao giờ nghĩ rằng Hón có thể giành trọn trái tim mình cho kẻ khác.

Quả thực Mậu xinh như thế cơ mà, Hón nếu có yêu cũng là phải. Con mắt ấy đẹp đến vậy, sẵn sàng hút hồn mọi kẻ bất chợt đến gần chứ đừng nói đã kết giao bè bạn từ ngày nảo, ngày nào như họ. Mậu lại là văn công, tiếng hát bay bổng ngọt ngào chứ đâu có sóng gió và cát mặn như tiếng xứ Quảng của Bẩy.

Chưa bao giờ Bẩy lại đem mình đi so sánh với người khác để phải chịu thiệt đơn thiệt kép như thế này. Bẩy bỗng thấy tủi thân cho mình khi gặp Mậu.

Cơn mưa rừng bỗng đâu ập đến, nhanh như đường bay của con chim cắt. Tiếng lộp bộp đầu tiên còn ra chừng dọa nạt, sau mau dần, quất ràn rạt trện đầu Bẩy. Bẩy chạy nhanh tránh mưa. Trong ánh chớp nhì nhằng, Bẩy chợt thấy ven rẫy của đồng bào có chiếc chòi canh nương. Bẩy vụt đến, lao lên chiếc cầu thang lồ ô.

Bỗng nhiên Bẩy mới nhớ, mình không đi một mình, còn Hón nữa. Thôi chết, Hón đâu rồi nhỉ? Sao không thấy Hón? Bẩy thực sự lo lắng. Bẩy tự trách mình đã bỏ rơi Hón. Không biết bây giờ Hón đang ở đâu? Bẩy tự trấn an mình, dầu sao Hón còn có Mậu để mà thương nhớ. Còn Bẩy, Bẩy biết thương nhớ ai?

Nhưng không được. Bẩy vẫn yêu Hón lắm. Bẩy muốn quay lại lội mưa đi tìm nhưng lại tự ái, băn khoăn lòng tự hỏi liệu người ta có cần đến mình nữa không mà quay lại?

Tự nhiên Bẩy lo sợ, không có được Hón, Bẩy sống thế nào?

Trong căn chòi vắng ngắt, không gian nhờ nhờ như bảo rằng trời chưa tối hẳn. Cơn mưa rừng ào ạt là thủ phạm khiến thời gian như vật vã trôi nhanh, làm chặng đường về Hà Tam của Bẩy kéo dài ra và chập chờn trong hoang lạnh.

Bỗng một ánh chớp xanh lét tóe ra, soi sáng rõ cả bụi cây ngọn cỏ. Một tiếng sét ré lên, ùng ục lan dài như trời cũng chơi trốn tìm, đuổi nhau về phía núi. Bẩy thấy Hón đang lui cui ngoài con đường mòn, một mình cô đơn và lạnh lẽo.

Tim Bẩy bỗng dâng trào một niềm thương xót. Sao Bẩy lại nhẫn tâm với Hón thế nhỉ? Hón rời bỏ quê hương Miền Bắc vào đây đâu phải để tìm tình yêu với Bẩy. Cả Mậu nữa, bao nhiêu năm rồi họ mới bất chợt gặp nhau. Yêu nhau mà chưa kịp chăm sóc cho nhau đã phải xa nhau. Bây giờ Bẩy còn có Hón ở bên, còn Mậu vẫn một mình một bóng. Thế thì Mậu còn khổ hơn Bẩy, trách cứ họ là điều không phải đạo.

Chiến tranh quả là tàn khốc. Bao nhiêu người ngã xuống. Bao nhiêu tình yêu lỡ làng và dang dở. Những vành khăn tang tròn vo chít trên những mối tình tưởng chừng bách niên giai lão. Thật là oan nghiệt cho những chàng trai, cô gái đã ngã xuống. Nhưng mà biết làm thế nào. Cuộc chiến tranh của chúng ta là cuộc chiến tranh vệ quốc mà. Không mất mát hi sinh sao giành được thắng lợi.

Bẩy bỗng rùng mình, lạnh toát dọc đốt sống lưng. Ngày mai, biết đâu mình chẳng thế, mình sẽ chết mà chưa được một lần yêu!

Bẩy hốt hoảng, líu ríu gọi tên Hón như sợ Hón biến mất trên cõi đời này. Tiếng Bẩy chìm trong tiếng mưa ào ạt, dập vùi quất xuống nơi rừng hoang lối vắng. Hai tay Bẩy kéo Hón lên sàn. Hón chưa kịp đứng vững Bẩy đã lao lên ôm chầm lấy  Hón như sợ Hón lại lầm lũi bỏ đi. Người Hón ướt sũng. Tấm áo mưa không ngăn được những làn mưa quất như điên dại ngoài trời. Không biết làm thế nào Hón đành yên lặng, không ra đón nhận và cũng không ra từ chối.

Mặc!

Bẩy cứ ôm lấy Hón. Vòng tay Bẩy xiết chặt đến ngạt thở. Nước mưa từ quần áo Hón thấm sang quần áo Bẩy.

Bẩy thầm thì:

– Anh giận em ha? Cho em xin nhe!

Tiếng Hón cũng như người hụt hơi ngạt thở:

– Bẩy có làm gì đâu mà Hón giận!

– Em vừa ghen với chị Mậu đó, anh có biết không hè?

Hón bất chợt lặng đi vì sự thật thà của Bẩy. Tính cách người con gái xứ Quảng là vậy. Họ không biết giấu lòng mình, yêu là bảo rằng yêu không chờ con trai ướm lời ngỏ ý, cứ ào đến, không quanh co đôi hồi như con gái Bắc.

– Nhưng mà … lỗi đâu phải do Mậu?

Đến lượt Hón ấp úng.

– Em biết vậy nhưng em vẫn cứ ghen. Em xấu quá anh hỉ?

– Không! Tình yêu không bao giờ xấu cả. Tiếc rằng chúng ta gặp nhau quá muộn.

– Dạ. Em biết!

Nói thế, nhưng Bẩy vẫn ôm ghì lấy Hón, người Bẩy rung lên từng chặp như lên cơn sốt rét. Hón lần lần theo vòng ôm mãnh liệt định gỡ tay Bẩy ra nhưng không làm sao gỡ nổi. Bẩy hổn hển:

– Em xin anh! Anh hãy cho em được yêu anh! Ngộ nhỡ ngày mai …

Hón vội rụt tay lại, bịt miệng Bẩy:

– Em đừng nói gở!

– Thật mà. Em yêu Hón lắm lắm Hón ơi! Nhưng em không muốn cướp anh của chị Mậu đâu. Dù sao chị ấy cũng là người đến trước …

Bẩy không cưỡng được lòng mình, cô vít đầu Hón xuống hôn như điên như dại vào đôi môi của anh. Hón mất đà đổ người xuống sàn. Bẩy phủ phục lên anh, môi Bẩy vẫn tìm môi Hón. Bẩy nói vội vã như người lạc giọng:

– Em không mần răng chịu nổi nữa đâu. Mặc kệ anh đó!

Vừa nói Bẩy vừa giật phăng chiếc áo đang mặc, áp cặp vú căng cứng vào ngực Hón, đè xuống, sàng đi sàng lại, di di như kẻ mộng du vậy.

– Ấy chết, em đừng bắt anh phản bội Mậu!

Bẩy cương quyết:

– Phản bội chi mà phản bội. Anh đâu có phản bội chị ấy. Đây là em xin anh cơ mà. Chỉ một lần thôi anh. Từ mai trở đi em không đòi hỏi gì anh nữa!

– Ngộ nhỡ…

– Không ngộ nhỡ gì cả. Em chịu trách nhiệm về việc làm của mình. Em còn mười lăm, mười bẩy gì nữa đâu. Em cần anh yêu một lần, một lần rồi thôi để em có thêm sức đánh giặc, để nếu có ngã xuống em không có gì phải ân hận nữa. Anh hiểu cho em không?

Hón hết đường chùn. Người anh nóng hôi hổi. Hai người hoàn toàn không còn mảnh vải che thân. Những đợt sóng trào dâng như chẳng có gì cưỡng nổi. Những tiếng kêu rên miên man và những nhịp thở dồn dập. Căn chòi rung lên nhè nhẹ.

Ngoài kia, mưa rừng vẫn sầm sập. Nhưng bây giờ tiếng sầm sập ấy không còn lạnh lẽo và vô cảm nữa, nó đã trở nên ấm áp như cũng thấu hiểu tình người.

VŨ QUỐC KHÁNH

(Còn tiếp)

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com