Phía sau trận chiến – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 3

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 21:34

 Chị đã ở bên Hón trong giây phút lâm chung, đã nhận những lời trăng trối của Hón mang về cho bủ. Bủ đã làm mẹ nên bủ hiểu nỗi vất vả mang nặng đẻ đau của chị. Hôm nay chị lại đưa thằng cháu đích tôn Trường Sơn của bủ về đây để bủ nhìn thấy hình bóng của con trai bủ. Nếu không có Bẩy Tiền thì làm sao bủ còn được thấy hình hài của Hón qua vóc dáng Trường Sơn này nữa.

Nhà văn Vũ Quốc Khánh. Ảnh: Nguyễn Đình Ánh

 

Chương XVII

 

Các trung đội trong đại đội vận tải C45 được lệnh điều động về những vùng chỉ đạo việc thu gom quân lương cho bộ đội. Không khí sôi sục hẳn lên, mặc dù đang vào mùa giáp hạt, lúa ngoài đồng chưa chín mà thóc trong bồ đã cạn. Nồi cơm các gia đình bà con chòm ấp chỉ toàn khoai mì là khoai mì. Người ta giành từng hạt gạo gửi ra tiền tuyến nuôi bộ đội. Ai cũng coi như là trách nhiệm và nghĩa vụ.

Ở các chợ, gạo được mua bằng đủ loại tiền, tiền đô xanh, đô đỏ, thậm chí tiền Miên, tiền Lào đều được cả. Rồi vàng ta, vàng tây, bạc thỏi, bạc đồng, dây chuyền, khuyên, nhẫn… Tất cả đều được tính đổi ra gạo. Sức đóng góp ủng hộ của đồng bào ta thật to lớn.

Các gia đình có người thân nhẩy núi đóng góp đã lắm mà bố mẹ, vợ con binh lính quốc gia ủng hộ cũng nhiều. Gia đình nọ bảo gia đình kia, vợ lính này rỉ tai vợ lính khác, ai cũng muốn mình có được tờ xác nhận của cách mạng rằng đã đóng góp nuôi bộ đội giải phóng.

Trung đội của Liên được tăng cường về Hà Tam.

Từ ngày được bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng rồi trung đội phó, công việc cứ cuốn hút Liên như chong chóng, chẳng còn thời gian đâu mà nghĩ về chuyện quá khứ. Hình ảnh thằng thám báo ngụy có vết sẹo chạy dài bên má trái và cặp mắt trắng dã như mắt lợn cũng bị những lo toan hàng ngày chôn sâu, nén chặt mặc dù thỉnh thoảng vẫn làm Liên thấy kinh tởm khi bất chợt nghĩ lại.

Đại đội trưởng Bẩy Tiền trực tiếp chỉ đạo trung đội công tác ở Hà Tam, đồng thời lấy đây làm đại bản doanh của đại đội. Các đồng chí lãnh đạo khác được phân xuống từng mũi. Đại đội phó Hón được giao phụ trách mũi tấn công đồn Núi Vũ, đồng thời cùng các trung đội chiến đấu khác phối hợp với du kích địa phương bức hàng các đồn bốt địch.

Gọi là phân công như thế để các bộ phận chủ động công việc, chứ thực tế ở Hà Tam Bẩy và Hón vẫn lấy nhà ông Năm Long và nhà bà Hai làm chốn đi về, ngủ nghỉ. Dù sao, đây cũng là những cơ sở huyết mạch của toàn vùng.

Ngay hôm đầu ra quân, các trung đội báo về đã thu mua được tám mươi tấn gạo. Số tiền, vàng nhân dân đóng góp và tiền sư đoàn đầu tư, dư sức mua được bẩy chục tấn nữa. Nhưng đến ngày thứ hai thì chỉ dồn sức thu mua được gạo chứ khả năng đóng góp của đồng bào chững lại. Sức dân xem chừng đã cạn.

Bẩy lo lắm, cầu cứu Hón:

– Anh xem có cách gì vận động được dân nữa không chứ cứ đà này không kịp tiến độ là cái chắc!

Hón bảo:

– Bẩy cứ bình tĩnh! Để chiều nay làm việc với đồn trưởng Thái Bình xong rồi tối ta cùng tính.

Chiều hôm đó, mệ Hai nhắn Thái Bình về nhà có việc gấp.

Kể từ hôm Thái Bình biết rõ công việc ủng hộ, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng mà cha mệ mình đã làm và hiểu bộ mặt thật của bộ máy chính phủ quốc gia, anh không còn thù hận những người cộng sản nữa. Thay vào đó là mối thiện cảm ngày càng tăng lên vì biết cả mệ anh, gia đình ông Năm Long, Chín Hạnh, Miên và  những người thân thiết với anh đều ủng hộ cách mạng, ủng hộ bộ đội giải phóng. Thậm chí anh còn tự hào vì họ, tự hào vì tờ giấy đã ố vàng mà ông tướng Nguyễn đã chứng thực cho cha anh.

Trong những người cùng chí hướng được anh nhiều lần tâm sự có viên thượng sĩ nhất Huỳnh Lâm, trung đội phó dưới quyền anh. Lâm là người đã tốt nghiệp văn khoa Sài Gòn. Hôm nay anh rủ cùng về nhà thăm mệ.

Ba mệ con đang ngồi nói chuyện thì Chín Hạnh đưa Bẩy và Hón bước vào. Họ chào nhau làm quen. Hón tự giới thiệu:

– Tôi là Hón, đại đội phó đại đội vận tải của bộ đội chủ lực tỉnh, còn đây là đại đội trưởng Bẩy Tiền.

Thái Bình và Huỳnh Lâm bất ngờ giật thót người nhưng cả mệ Hai, Chín Hạnh, Bẩy và Hón đều coi như không biết. Hón nói tiếp:

– Sư đoàn trưởng sư đoàn Chu Lai của quân giải phóng, người đã chịu ơn nuôi dưỡng của cha mệ anh có thư gửi thăm anh.

Nói rồi Hón lấy phong thư của tướng Nguyễn đưa cho Thái Bình. Thái Bình giơ hai tay đón phong thư, run run lấy tờ giấy gấp tư ra đọc. Nét mặt anh từ lo sợ chuyển sang rạng rỡ, hân hoan. Anh đưa phong thư cho Huỳnh Lâm đọc. Hai người líu ríu ôm lấy nhau, ngỡ ngàng như người vừa thoát ra khỏi con đường hầm tăm tối, đến với ánh sáng mặt trời rộng mở.

Thái Bình sung sướng ôm chầm lấy Chín Hạnh:

– Anh cám ơn mệ và gia đình em đã đưa anh về với cách mạng!

Nói rồi anh giơ hai tay ra nắm chặt hết tay Hón lại đến tay Bẩy:

– Em cám ơn các anh, các chị bộ đội giải phóng đã chỉ cho em con đường đến với nhân dân, đến với Tổ quốc! Em như được cách mạng sinh ra lần thứ hai vậy!

Sau những phút giây cảm động đó, Hón bảo mọi người cùng ngồi lại bàn bạc cách áp chế đồn Núi Vũ và các đồn bốt trên đường vận lương cho Giải phóng.

Thái Bình và Huỳnh Lâm phấn khởi lắm vì là lần đầu tiên được cách mạng tin tưởng giao việc. Mọi sự băn khoăn áy náy về cách đối phó của cách mạng với họ đã được giải tỏa. Phía trước họ là cửa đường hầm đầy ánh sáng và niềm tin. Họ đã hoàn toàn bị khuất phục, từ bỏ lí tưởng “cần lao nhân vị” của quốc gia về với chính nghĩa, về với nhân dân, về với cách mạng.

Thái Bình và Huỳnh Lâm hiến kế:

– Đồn Núi Vũ xem ra khó hơn cả bởi có tụi Mỹ và viên đồn phó Hùng Cường, còn các đồn kia chúng em sẽ đến từng đồn vận động các đồn trưởng. Ở đấy toàn người Việt, đồn trưởng nói chắc các binh sĩ sẽ nghe bởi tinh thần lính tráng coi thế nhưng rệu rã lắm rồi. Bây giờ khí thế cách mạng đang lên, binh sĩ chẳng dại gì chết cho quốc gia uổng phí. Chỉ có một số ác ôn có nhiều nợ máu với cách mạng là điên cuồng chống phá thôi. Cách mạng nên coi chừng bọn này.

– Nếu được thế thì các anh tranh thủ đi ngay rồi về cho chúng tôi nắm lại để đỡ đổ máu cho cả hai bên. Riêng tại đồn Núi Vũ, các anh chủ động bố trí lính gác trung thành mở cửa đồn, nửa đêm rạng sáng ngày kia chúng tôi sẽ cho bộ đội và du kích vào áp sát các mục tiêu, sau đó kêu gọi đầu hàng. Nếu không được chúng tôi mới đánh tiêu diệt.

– Dạ, chúng em đi liền!

– Xong việc các anh về đây ngay nhé!

– Dạ!

Thái Bình và Huỳnh Lâm đi khỏi, Bẩy Tiền cùng Hón và Chín Hạnh chụm đầu bên mệ Hai tìm cách tháo gỡ nốt năm chục tấn gạo còn lại. Ai cũng biết sức lực của nhân dân trong vùng đã ủng hộ đến đồng tiền, bát gạo cuối cùng rồi, chừ không thể ủng hộ thêm được nữa.

Đang lúc bí, mệ Hai bỗng nhớ ra:

– Ừa, mệ có người bà con họ hàng cùng quê ngoài Bắc chủ một sạp gạo lớn ngoài chợ Cồn Đà Nẵng. Người này có thể nhờ được. Những năm trước đây, mệ có làm ăn với bả. Mua bán chịu nợ chỉ cần có vật làm tin là xong. Mệ có vật khiến người ấy có thể tin được.

– Thế ạ, thế thì may quá! Mệ có vật gì quý vậy?

Mọi người xúm vào hỏi mệ.

Mệ Hai lụi cụi mở chiếc rương gỗ lấy ra một chiếc hộp nhỏ. Chín Hạnh mở ra.

Bỗng Hón giật thót người, tay run lập cập khi cầm lấy cái hộp, giọng lẩy bẩy:

– Mệ … cũng có … cái nấm … này à?

– Sao thế con?

– Bầm con … cũng có … một cái.

Đến lượt mệ Hai ngỡ ngàng:

– Thật không … Hón.

– Thật … ạ!

Mệ Hai chới với, quờ lấy Hón nhưng không kịp. Mệ vật xuống ghế. Hón cũng lắp bắp, ú a ú ớ. Mọi người không hiểu sao, vội xoa dầu giải cảm cho mệ. Lát sau, hai mệ con mới bình tĩnh lại. Mọi người xúm xít quanh mệ và Hón. Ai cũng muốn hiểu cho ra đầu đuôi câu chuyện thế nào.

Mệ Hai thì thào:

– Có phải ngón chân cái bàn chân bên trái của bầm con bị tật, ngón cứ chĩa ra không?

– Vâng đúng rồi mệ ạ!

– Con ơi, Hón ơi. Thế thì may cho mệ con mình quá!

Mệ xoay người nói rành rẽ:

– Anh Hón đây là cháu gọi mệ bằng dì ruột. Mẹ anh Hón là chị ruột mệ. Thằng Thái Bình nhà mệ với anh Hón là đôi con dì con già. Thái Bình là em, anh Hón là anh.

Mọi người ngỡ ngàng, ồ lên vui mừng khôn tả.

Mệ Hai tiếp lời:

– Ngay từ đầu gặp con, mệ đã nghi nghi. Nhưng khi con nói quê ở trên rừng mệ mới thôi. Con giống bà ngoại con từ khổ người cho đến con mắt. Còn dì lại giống ông ngoại. Trước khi bà ngoại con mất, có để lại cho hai chị em mệ đôi nấm bạc này, mỗi người một bên làm của hồi môn. Nhà nghèo chỉ có thế thôi. Rồi hai chị em ta lưu lạc, người Bắc, kẻ Nam. May nhờ có đôi nấm bạc này mà bây giờ chị em, dì cháu mới nhận được nhau.

Ngừng một lát mệ nói tiếp:

– Đôi nấm này do chính ông nội người bà con ngoài Đà Nẵng của mệ kéo cho từ khi ổng còn trẻ. Đằng sau mỗi chiếc đều có chữ T làm dấu, đó là chữ đầu quê Tiên Lữ của mệ. Chính vì vậy, mệ đã dùng nó là vật làm tin khi cần mua bán chịu nợ cùng bả. Thôi chuyện còn dài, mệ con, anh em còn nhiều dịp đôi hồi. Bây giờ Chín Hạnh sửa soạn để hai cô cháu ra Đà Nẵng cho kịp kẻo tối.

Mệ Hai và Chín lên xe đò. Chỉ còn Bẩy và Hón ở lại nhà chờ tin Thái Bình.

Bẩy thì thầm với Hón:

– Thiệt là bất ngờ anh hỉ?

– Ừ, anh thấy như có Trời Phật run rủi cho mình vậy. Không biết bầm anh ở nhà có nóng ruột không? Anh nhớ bầm quá!

– Bầm bao nhiêu tuổi rồi anh hè?

– Năm nay bầm gần bẩy chục tuổi. Bẩy chục tuổi mà ở một thân một mình, chưa dâu, chưa cháu. Chẳng biết ngày chiến thắng anh về bầm còn chờ được không nữa?

Tự nhiên như buột miệng, Hón chợt cất lên điệu xẩm chợ: “Con đi, con lớn lên rồi, Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con. Nhớ con bầm nhé đừng buồn, Giặc tan con lại sớm hôm cùng bầm. Mẹ già tóc bạc hoa râm, Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con”. Giống như giọng xẩm của Lèng ngày nào, lời thơ và giọng ca của Hón nghe như vừa nao nao vừa da diết, chẳng ra vui, cũng chẳng ra buồn. Nó cứ âm ỉ trong lòng y câu ca Hón nghe ngày năm cũ: “Đời người được mấy ước mơ, Chàng mơ chinh chiến, em mơ bóng chàng”

Bất giác Hón nắm chặt bàn tay của Bẩy. Bàn tay rung rung. Nơi khóe mắt anh như thoáng mờ giọt lệ.

***

Xẩm tối, Thái Bình và Huỳnh Lâm mới về. Họ vui vẻ báo tin, ngoại trừ viên đồn trưởng đồn Phú Hà họ không gặp gỡ bởi biết y trung thành với quốc gia, còn các đồn trưởng đồn Phú Thọ và Phú Hiệp đều ủng hộ kế hoạch phản chiến của ta. Tuy nhiên, ở đồn Phú Hà, viên đồn phó và đa phần binh sĩ ở đấy đều đã ngả theo cách mạng. Họ cũng mong được phản chiến khi đồn bị tấn công. Thái Bình đã mang thư và giấy đảm bảo của tướng Nguyễn, sư đoàn trưởng sư đoàn Chu Lai, người được mệnh danh “con hùm xám” Tây Nguyên ra cho họ đọc. Ai ai cùng vui mừng. Sức vóc họ có là bao để mà chống chọi với thế mạnh của cách mạng. Họ chỉ yêu cầu có trận đánh tượng trưng để vợ con lính tráng ở nhà không bị chính quyền quốc gia cắt lương và gây khó dễ mà thôi.

Phía sau trận chiến – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh

Chín giờ đêm, mệ Hai và Chín từ Đà Nẵng cũng về đến nhà. Mệ cho hay việc thương thuyết mua gạo ở Đà Nẵng đã thành công. Theo thống nhất giữa hai bên, đến tối ngày hôm sau, các xe gạo sẽ tập kết ở Hà Tam để chuyển lên kho theo kế hoạch.

Thế là toàn bộ số gạo sư đoàn trưởng yêu cầu đã được đại đội hậu cần tỉnh đội chuẩn bị xong, chỉ còn chờ đến giờ hiệp đồng là lên đường về kho sư đoàn chuẩn bị cho trận đánh lớn giải phóng Núi Cấm.

Thái Bình vô cùng bất ngờ khi được mệ cho biết anh Hón với Thái Bình là đôi con già con dì. Hai anh em mừng rỡ khôn xiết ôm lấy nhau trong niềm hân hoan vô bờ bến. Bây giờ họ không còn là hai kẻ xa lạ như trước nữa. Truyền thống gia đình đã kéo họ xích lại gần nhau trong cùng một chiến hào đánh giặc.

Hai người thắp chung một nén nhang trước bàn thờ ông Hai. Trong hương trầm thơm ngát, Thái Bình như thấy hình bóng của cha về nhìn anh độ lượng và trìu mến, khích lệ anh vững bước trên con đường cách mạng mà ông đã chọn.

Ngay đêm ấy, Hón lập tức về báo cáo gấp với tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn. Thấy tình hình các đồn bót giặc như vậy, tỉnh đội trưởng chỉ thị điều các trung đội chiến đấu áp sát các đồn bót Phú Thọ và Phú Lộc làm lực lượng dự bị chờ lệnh. Nếu việc vận lương thuận buồm xuôi gió thì không cần đánh chiếm, cứ để hai đồn bốt đó ở nguyên làm lực lượng hậu thuẫn cho bộ đội giải phóng. Như vậy, đồn địch chỉ còn vỏ mà không có ruột, hay nói cho đúng là ruột đã là của ta. Còn đồn Phú Hà, trung đội chiến đấu được cử về sẽ cùng du kích bí mật liên lạc với lực lượng phản chiến trong đồn, tổ chức hợp đồng trong đánh ra ngoài đánh vào, xóa sổ đồn Phú Hà.

Riêng trung đội chiến đấu của Phiến, được tăng cường cho Hà Tam khống chế đồn Núi Vũ, giúp đại đội hậu cần khẩn trương tập trung vận lương theo kế hoạch.

 

Chương XVIII

 

Trung đội trưởng Phiến đã đưa quân về lót ổ ở Hà Tam từ nhập nhoạng tối. Đêm nay, đơn vị của anh cùng với trung đội du kích của Tư Thới sẽ áp sát đồn Núi Vũ, tấn công tiêu diệt bọn Mỹ và ác ôn đầu sỏ nếu chúng kháng cự. Đồn trưởng Thái Bình và lực lượng phản chiến sẽ mở cổng đồn, để bộ đội và du kích lọt vào bằng cổng chính, không phải mất thời gian điều nghiên, trinh sát, đánh bộc phá phá hàng rào và bãi mìn làm cửa mở tấn công. Ta sẽ đỡ phải đổ xương máu mà nhiệm vụ cũng vẫn hoàn thành.

Tám giờ tối, bộ đội và du kích cùng tập trung để thống nhất hợp đồng tác chiến. Theo thống nhất chung, cứ một bộ đội sẽ đi cùng một du kích. Ban chỉ huy trận đánh sẽ gồm Hón, Phiến và Tư Thới, do Hón làm chỉ huy trưởng. Liên được giao chỉ huy mũi hậu cần, sơ cứu, tải thương. Về phía lực lượng phản chiến, Thái Bình và Huỳnh Lâm sẽ phụ trách các khâu tổ chức cắt đứt các đường dây hữu tuyến, phong tỏa liên lạc vô tuyến, mở cổng chính để lực lượng bộ đội và du kích vào đồn khống chế bọn Mỹ và các tên ác ôn đồng thời chiếm lĩnh các vị trí xung yếu cần thiết. Khi có hiệu lệnh tấn công, dùng loa kêu gọi binh lính đầu hàng, nộp vũ khí.

Gần mười hai giờ đêm, binh sĩ trong đồn Núi Vũ đã ngon giấc. Lực lượng ta bắt đầu tiến vào đồn. Huỳnh Lâm chỉ huy tốp lính gác mở cửa đồn cho quân ta áp sát các vị trí. Phiến vác khẩu B40 lắp quả đạn hình bắp chuối cùng một tiểu đội có trung liên RPD hỗ trợ đã hướng nòng súng vào căn nhà bọn lính Mỹ đóng. Tư Thới chỉ huy anh em áp sát nhà viên đồn phó Hùng Cường. Các tiểu đội phối thuộc mang AK, đạn lên nòng, bám sát các trại lính. Cả đồn Núi Vũ chìm trong giấc ngủ yên tĩnh. Các mũi tấn công của ta đang chờ lệnh của Hón.

Chính trong lúc ta đang triển khai đội hình chiến đấu thì viên đồn phó Hùng Cường tỉnh giấc. Cũng chẳng phải có linh tính gì mách bảo mà bản chất của một tên thám báo vẫn ngự trị trong con người hắn. Hắn nhìn qua khe cửa sổ thấy những bóng đen đang tiến tới ngôi nhà chỉ huy của hắn. Nhanh và êm như một con mèo hắn dắt theo khẩu Colt Mỹ, rồi vội lỉnh ra ngoài qua một cánh cửa đặc biệt do hắn khéo léo thiết kế và chỉ mình hắn biết. Hắn đã lọt ra khỏi vòng vây của bộ đội và du kích, nép mình vào khe tối chờ thời cơ trốn chạy.

Đúng giờ G, một tràng AK chỉ thiên vang lên. Cả đồn Núi Vũ chợt bừng tỉnh. Điện tắt ngóm. Tiếng loa trong đồn vang lên lời của đồn trưởng Thái Bình:

– Hỡi anh em sĩ quan và binh lính. Tôi là trung úy Thái Bình, đồn trưởng của anh em. Tôi thông báo để anh em biết, hiện nay bộ đội chủ lực Giải phóng đã áp sát tất cả các mục tiêu trong căn cứ của chúng ta. Lực lượng binh sĩ trong đồn đã phản chiến, mở cửa đồn đầu hàng và nộp vũ khí cho quân giải phóng. Anh em binh sĩ hãy theo gương đó ra hàng quân giải phóng và nộp vũ khí để tránh đổ máu.

Thái Bình chuyển loa cho Hón. Hón nghiêm giọng:

– Đối với lính Mỹ và các đối tượng khác, quân giải phóng yêu cầu hạ vũ khí đầu hàng để hưởng lượng khoan hồng của cách mạng. Kẻ nào ngoan cố, có hành động chống cự sẽ bị tiêu diệt.

Thái Bình chưa nói dứt câu, một tràng AR15 rèn rẹt từ trại lính số hai vang lên, đạn bay đỏ lừ, rồi lựu đạn Mỹ từ đó tung ra nổ chói tai, đáp lại như khẳng định sự kiên quyết phản kháng của bọn ác ôn ngoan cố.

Theo sự mật báo của Thái Bình, đấy là trại có nhiều tên ủng hộ Hùng Cường nhất nên sự phản kháng này đã nằm trong tiên lượng của ban chỉ huy. Lập tức, hai khẩu trung liên của ta đặt ở vị trí thuận lợi bên ngoài bắn chéo cánh sẻ, đạn nổ như ngô rang khiến bọn địch trong nhà kêu oai oái. Các mũi tấn công trại lính Mỹ và mũi tấn công nhà viên đồn phó Hùng Cường cũng đồng loạt nổ súng thị uy.

Bên trại dành riêng cho tụi lính Mỹ vẫn im lặng như tờ, không có phản ứng gì.

Phiến được lệnh chuyển sang tấn công theo phương án hai, đánh địch có hầm ngầm công sự. Lúc này tụi Mỹ đã rúc xuống hầm ngầm cố thủ. Theo sơ đồ mà Thái Bình cung cấp, dưới nền trại là căn hầm ngầm kiên cố, đủ lương thực thực phẩm cho cả trung đội Mỹ ẩn nấp hàng tuần, có đường hầm dẫn xuống các ngách ở chân đồi để tẩu thoát. Qua lớp bao cát dầy hàng mét trên nóc hầm là những trái mìn có sức công phá lớn. Chỉ cần ta xông vào là mìn nổ.

Phiến lệnh cho mọi người tản ra, triển khai kế hoạch đánh phản kích nếu tụi Mĩ đồng loạt xông lên hoặc là trực diện, hoặc tại các vị trí cửa hầm. Phía trực diện đã có B40, mìn clâymo và trung liên chờ chúng. Các cửa hầm ở chân đồi nhanh chóng được quân ta đặt các khối bộc phá lớn và các trái mìn clâymo chờ đợi.

Mũi áp sát nhà viên đồn phó Hùng Cường cũng yên lặng như tờ. Tư Thới đoán rằng hắn nấp ở trong nhà tử thủ. Được Thái Bình cho biết trong nhà hắn không có hầm ngầm nên Tư Thới lập tức triển khai kế hoạch vây bắt và nếu cần sẽ tiêu diệt Hùng Cường.

Phương án địch hoảng loạn đầu hàng đã không xẩy ra, thay vào đó là sự điên cuồng tử thủ của địch, buộc ta đồng loạt chuyển sang phương án đánh tiêu diệt.

Mũi tấn công trại lính số hai do Hón chỉ huy, dùng trung liên và AK khống chế tụi lính ngoan cố. Bọn địch lợi dụng giao thông hào điên cuồng chống trả. Tiểu đội thọc sâu được lệnh áp sát địch. AK điểm xạ tằng tằng hai viên một ròn rã, lựu đạn nổ ầm ầm, chát chúa dồn tụi địch vào từng ngách hào. Tiếng tiểu liên cực nhanh và cối cá nhân toóc đùng của địch cũng đua nhau không ngớt chặn bộ đội và du kích.

Một thằng lính ngụy không còn đường lùi, cảm tử lao lên miệng giao thông hào cắp khẩu trung liên xiết một băng dài. Đạn ré lên như xé vải, cát-tút vãi ra tung tóe. Hón bình tĩnh nâng khẩu AK xiết cò, mới hai điểm xạ nó đã đổ vật xuống, chưa kịp nằm vắt lên bờ bao cát chắn thì một tiếng lựu đạn mỏ vịt rít lên, xác nó bung ra từng mảng bay tơi tả. Chắc là nó giật chốt lựu đạn nhưng không kịp tung thì đã chết.

Giữa lúc đó, tại trại lính Mỹ, sau khi cho phong tỏa các cửa hầm, Phiến lệnh cho phân đội mũi nhọn chập điện. Những quả mìn clâymo hướng vào nền trại đồng loạt phát nổ, kích hoạt các quả mìn bọn Mỹ gài trong đó nổ theo. Đất dưới chân rung chuyển như động đất. Các tấm tường tung tóe, các tấm tôn bay như bươm bướm. Một biển lửa ngùn ngụt soi sáng khắp căn cứ, nhấn chìm trại lính Mỹ.

Ở phía trại ác ôn, xem cơ sự không thể không dùng đến hỏa lực mạnh để đè bẹp ý chí phản kích của tụi này. Hón vẫy một chiến sỹ B40 lên, chỉ vị trí miệng hầm nơi qua ánh lửa cháy có nhiều bóng rằn ri lố nhố, co cụm. Lập tức một quầng lửa bùng lên, quả B40 gầm như tiếng pháo, xác địch tóe ra, khét lẹt.

Tiếng AR15 ở các ngách hầm khác tự nhiên câm tịt. Một chiếc áo trắng ngoắc vào đầu súng rụt rè nhô lên. Tiếng bọn lính tử thủ run rẩy, hoảng loạn:

– Xin các anh giải phóng đừng bắn! Chúng em xin hàng ạ!

Hón thét lớn:

– Ra hàng ngay, giơ súng lên đầu, đi hàng một!

Bọn địch lố nhố từ các ngách hào chui lên như lũ chuột ra hàng.

Theo mật báo của đồn trưởng Thái Bình, phía trại lính số một và số ba, phần đông là con nhà lao động, có ý định phản chiến từ đầu nên im ắng, không có bất cứ sự chống cự nào. Các mũi tấn công của ta áp sát vòng ngoài chờ đợi thời điểm thuận lợi cho binh sĩ giao nộp vũ khí đầu hàng.

Giờ đã đến lúc, cửa trại được mở, anh em binh lính trật tự ra hàng. Súng xếp vào đống, người tự giác tập trung trước sân đồn chờ hiệu lệnh của bộ đội giải phóng. Có bốn tên ngoan cố định tử thủ, bị anh em binh lính phản chiến trói, dồn lại giao cho bộ đội giải phóng.

Liên dẫn đội hình lên sơ cứu cho anh em bị thương, nhẹ thì tạm nghỉ tại chỗ, nặng thì cáng về tuyến sau. Bốn bộ đội và du kích hi sinh, họ được anh chị em đưa ra ngoài chờ truy điệu và an táng

Tư Thới cho anh em áp sát nhà Hùng Cường. Chờ mãi vẫn không có động tĩnh gì. Tư Thới cho du kích lùng sục xung quanh, phát hiện có cánh cửa mở. Anh phán đoán, hoặc hắn đã lỉnh ra ngoài, hoặc hắn nghi binh rồi tử thủ, chết cùng chết với quân giải phóng.

Một du kích được lệnh bất ngờ tung vào nhà trái lựu đạn US. Vẫn không thấy động tĩnh gì. Tư Thới đạp cửa xông vào. Căn phòng không một bóng người. Bộ đội và du kích lùng sục khắp phòng. Tất cả không hề có dấu vết của Hùng Cường. Anh cho quân ra truy tìm bên ngoài.

Ở sân đồn, Hón cho binh lính phản chiến tự nguyện ra hàng tập trung thành đội hình, giao cho Thái Bình chỉ huy chờ biên chế thành đơn vị giữ đồn, chuẩn bị cùng bộ đội và du kích tiếp tục vây bắt bọn Mỹ đang ở dưới hầm và đánh phản kích nếu địch ở các căn cứ khác tổ chức tấn công.

Số ác ôn ngoan cố chỉ chịu làm tù binh khi hết đường chống cự, được tập trung lại, dẫn giải lên căn cứ theo chính sách tù hàng binh của cách mạng.

***

Hùng Cường im lặng nấp vào khe tối giữa hai bức tường nhà chỉ huy, đối diện với sân đồn. Qua ánh lửa đỏ rực hắn nhìn rõ những tên lính đàn em của hắn lũ lượt kéo nhau ra chỗ tù binh. Những khuôn mặt méo mó, những cặp mắt cụp xuống lấm lét, những cánh tay run rẩy và những bước đi loạng choạng, sợ đến mức không còn sinh khí, chứng tỏ sự bạc nhược của tụi lính anh chị một thời này đã đến cực điểm.

Thế là thời chinh chiến oai hùng của Hùng Cường đã hết!

Hùng Cường nhớ lại khi hắn mới chập chững bước vào đời.

Ngày ấy, hắn là đứa trẻ bụi đời, lang bạt, tứ cố vô thân, gặp đâu là nhà, ngã đâu là giường. Hắn lăn lóc ở bến xe, bến tầu trong cái thành phố phồn thịnh vào loại bậc nhất miền Trung này. Thành phố Đà Nẵng với những buynh-đinh chọc trời dành cho những nhà thế lực, giầu có, quan chức và tướng lĩnh. Đó cũng là thành phố với những căn nhà ổ chuột tồi tàn, xọp xẹp của người dân lao động suốt ngày bán lưng cho đất, bán cật cho trời và đĩ điếm chuyên bán trôn, nuôi miệng.

Cha mệ hắn là những người vừa “cha căng chú kiết”, vừa là những kẻ ba lăng nhăng, vô trách nhiệm. Họ chẳng cần nghĩ đến ngày mai, chỉ biết đến những gì cho họ những thú vui tạm bợ. “Nhà có móng” thì chẳng ai có cái nào, kể cả nhà cốt gọi là có, mái thỏa thích ngắm sao trời, vách vô tư đón gió, nhưng “nhà có chân” thì ai cũng có đôi ba. Chính vì thế, hắn sớm bị quẳng ra đường. Và rồi sau đó cha mệ hắn cũng chẳng nhớ rằng họ có một đứa con là hắn sống ở trên đời này. Thói đời bệ rạc vốn dĩ là thế. Ừ, thế càng hay! Tự nhiên hắn chẳng phải mang ơn, chẳng phải nghĩ đến trách nhiệm với ai cả. Cha mệ còn chẳng ăn ai nữa là người dưng nước lã. Hắn nghĩ vậy.

Suốt ngày hắn mon men quanh các quán bar, dọc con đường Bạch Đằng ven sông Hàn dẫn từ mạn Bắc thành phố xuống đến chân cầu Trịnh Minh Thế. Gặp gì hắn làm nấy, từ bán nhật trình, đánh giầy, móc túi và xin ăn. Lúc thì hắn bị bọn Mỹ đá đít, lúc lại bị bọn cảnh sát dồn chạy toán loạn. Cũng có khi hắn bị những chiếc xe nhà binh lính lái say rượu ép vọt mất cả dép.

Cầu Trịnh Minh Thế là cây cầu sắt duy nhất bắc qua sông Hàn dẫn sang bán đảo Sơn Trà. Nơi ấy là khu quân sự của tụi lính Mỹ. Bên bán đảo có nhiều đồ ve chai, nếu lượm bán cũng được bộn tiền. Hắn muốn sang lượm nhưng đội quân cảnh cấm ngặt.

Hắn thường xuyên đói.

Có khi cả ngày hắn chẳng kiếm được cái gì bỏ bụng. Nhiều cái có thể trở thành thói quen, chứ bảo quen với cái đói thì hắn chịu. Có câu cửa miệng “đói ăn vụng, túng làm càn” nhưng mà ăn vụng đâu có dễ. Người nghèo ai ai cũng thuộc câu “chó treo mèo đậy”. Còn kẻ giầu thì cửa đóng then cài, có mấy đồng bọ trong túi mà hết lớp khuy cài này đến lớp phéc-mơ-tuya khác, ai mà trộm cắp được.

Thế là hắn đành làm liều. Thừa cơ quân cảnh không để ý, hắn luồn lách qua các bóng cây, sang bên bán đảo Sơn Trà lượm được một tải vỏ đồ hộp, lon sữa, lon bia. Khốn nạn thân hắn, khi sắp qua được cầu Trịnh Minh Thế thì hắn bị quân cảnh bắt. Người ta nghi hắn đi do thám cho cộng sản. Hắn nào biết cộng sản là gì. Hắn chỉ đói thôi. Thế là hắn bị tống vào bót quân cảnh giam một buổi. Rồi quân cảnh cũng điều tra ra là hắn đói. Vậy là hắn được tha. Không những được tha mà hắn còn được vào một lớp học võ của quân đội. Hình như người ta thấy hắn có một năng khiếu bẩm sinh nào đó, có thể sử dụng được. Khi ấy hắn mới mười lăm tuổi.

Hai năm sau, hắn được học nhẩy dù. Cấp trên bảo sẽ cho hắn nhẩy dù ra ngoài Bắc làm gián điệp. Nếu làm tốt, hắn sẽ có nhiều tiền. Hắn mừng lắm!

Thế nhưng trong một buổi trốn quân trường đi chơi gái, quen thói ngổ ngáo, lại cậy có tí võ, hắn gây sự đánh nhau và bị đám giang hồ anh chị xỉa cho một nhát vào má trái cảnh cáo. Thế là tịt ước mong ra miền Bắc làm gián điệp, hắn được thượng cấp giao chỉ huy một toán thám báo thuộc đồn Mỹ kép Núi Vũ.

Bây giờ hắn đã là thiếu úy đồn phó, được mấy ông Mẽo nâng đỡ vì tính liều lĩnh bẩm sinh. Miếng cơm hắn đang ăn, giờ bị tay đồn trưởng Thái Bình phản bội ngả theo cộng sản cướp mất. Hắn căm giận đến tột cùng! Hắn thề không đội trời chung với kẻ phản nghịch này.

Vừa lúc đó ngoài sân đồn, trung úy đồn trưởng Thái Bình, sếp của hắn đang đứng trước đội quân phản chiến vốn hôm qua còn là chiến hữu của hắn úy lạo binh sĩ.

Không thể kìm nén được nữa, Hùng Cường giơ khẩu colt lên, nhằm thắng Thái Bình bóp cò.

***

Hón đi kiểm tra một vòng quanh đồn, chỉ đạo việc phong tỏa hầm ngầm bọn Mỹ đang ẩn nấp. Công việc đánh chiếm đồn Núi Vũ có chút khó khăn nhưng đã thành công. Trên kia, đồn Phú Hà cũng đã thất thủ, hai đồn Phú Thọ và Phú Hiệp binh sĩ phản chiến chủ động xin hàng. Bộ đội và du kích ta đã hoàn toàn làm chủ tuyến đường Hà Tam đi Làng Mười.

Phi pháo địch chưa dám động tĩnh gì bởi chúng hoàn toàn bất ngờ, chưa biết nơi nào còn, nơi nào mất, chỗ nào cộng sản đã chiếm, chỗ nào chưa, đâu là nơi lính Mỹ và binh sĩ Quốc gia đang ẩn nấp. Thành ra sau những tiếng nổ dữ dội ở đồn Núi Vũ, tất cả đều chưa có động tĩnh gì cả.

Từ đỉnh đồi đồn Núi Vũ, Hón đã nhìn thấy đoàn xe chở gạo của ta từng tốp bốn năm chiếc một, rầm rầm chạy trên đường đi Làng Mười.

Anh hình dung thấy dưới ấy, đại đội trưởng Bẩy Tiền của anh đang chỉ huy đường dây vận chuyển quân lương. Khuôn mặt chữ điền với hàng lông mày rậm toát lên ở người nữ chỉ huy xông xáo nhiệt tình ấy một ý chí kiên cường trước công việc, một tình cảm son sắt thủy chung với cách mạng. Người đồng chí ấy, người con gái ấy, người chị, người em ấy đã dành cho anh cả một tình yêu vô bờ bến. Anh bỗng rưng rưng trong lòng với bao nỗi niềm khắc khoải.

Thế là nhiệm vụ sư đoàn trưởng Nguyễn và tỉnh đội trưởng Sáu Ngạn giao cho đại đội của anh đã sắp sửa hoàn thành. Trong các nhiệm vụ đã hoàn thành của đại đội từ trước đến nay, đây là nhiệm vụ đòi hỏi quyết tâm rất lớn, khối lượng công việc nhiều nhất, trong thời gian ngắn nhất.

Có được sự hoàn thành đó là do sự phối hợp, sự đóng góp, sự hy sinh sức người, sức của dựa trên lòng tin tưởng vào cách mạng của nhân dân Hà Tam, của nhân dân xứ Quảng. Sau nhiệm vụ này, có thể anh sẽ được gặp người yêu. Anh lại được ôm hôn Mậu trong vòng tay đầy thương nhớ của anh, được nghe Mậu hát những bài giang, bài ví của bản Mẫn quê hương anh, được nghe Mậu thổn thức kể cho anh nghe những nỗi nhớ thương dằng dặc Mậu giành cho anh.

Bỗng Hón thấy từ trong bóng tối của bức tường trước mặt hình như có bóng gì lay động. Linh tính mách bảo anh có mối nguy hiểm đang rình rập Thái Bình. Trong giây phút bất chợt đó, anh bỗng thấy có sợi dây huyết thống ràng buộc anh và Thái Bình. Trước mắt anh, không còn là Thái Bình một thời lầm đường lạc lối, từng giương súng Mỹ bắn vào cách mạng, mà chỉ còn hình bóng của đứa em mang một phần máu thịt của quê hương dòng tộc. Anh vội lao ra, gọi tên Thái Bình cảnh báo và xiết cò khẩu AK. Tiếng AK chát chúa xen lẫn tiếng súng colt khô khốc. Anh thấy nhói ở ngực và nghe tên địch rít lên một tiếng man rợ.

Thấy có người hấp tấp gọi tên mình, ngay lập tức theo phản xạ của người lính, của một sĩ quan chuyên nghiệp được đào tạo bài bản ở trường võ bị Đà Lạt, Thái Bình gập người lăn một vòng rồi ẩn sau một chướng ngại vật. Anh thấy có bóng người đổ vật xuống từ phía bên bức tường đối diện. Vừa lúc đó có tiếng thất thanh:

– Anh Hón bị thương rồi!

Thái Bình vội lao ra ôm lấy Hón. Mọi người xúm lại.

Thì ra thằng chó đẻ Hùng Cường định bắn lén anh! May mà anh Hón phát hiện ra, hô hoán và đã hứng trọn những viên đạn của nó để cứu anh.

Thái Bình thấy đau nhói trong tim. Trước mặt Thái Bình không chỉ là một anh Hón ruột rà máu mủ đã không quản thân mình, nhận phần hi sinh, che chắn cho anh thoát chết mà còn là một anh bộ đội Cụ Hồ hết lòng thương yêu nhân dân, dũng cảm chiến đấu vì độc lập dân tộc, lo cho Nam Bắc một nhà, không màng vinh hoa phú quý, không vì lợi ích cá nhân. Tự nhiên Thái Bình thấy hổ thẹn vì bộ quân phục sĩ quan cộng hòa đang khoác trên mình. Thái Bình muốn nhanh chóng được về nhà, cởi bỏ bộ quân phục dơ bẩn đó cho tâm hồn được phần nào thanh thản.

Liên ào đến như một cơn lốc. Cô khóc nấc lên, lấy bông băng sơ cứu cho Hón. Ánh đèn pin soi rõ vẻ mặt tái nhợt của Hón. Vết thương xuyên qua ngực khiến anh thủng phổi, máu đùn ra từng đống bọt. Đồng đội đặt anh lên cáng, vội vã khiêng anh chạy về nhà mệ Hai.

Liên hấp tấp định lao theo nhưng Phiến đã ngăn lại. Phiến chỉ cho Liên tên địch bị Hón bắn đang quằn quại kêu rên như con chó bị cắt tiết. Liên thét lên:

– Mặc kệ nó!

Phiến vội bảo:

– Không được, đây là chính sách nhân đạo!

Anh soi đèn pin cho Liên để Liên băng bó. Tên địch bị đạn bắn gẫy cánh tay phải. Vết thương ở bụng khiến ruột hắn xổ ra một đống. Liên khéo léo ấn ruột hắn vào ổ bụng, úp chiếc bát sắt lên rồi lấy băng, băng quanh bụng hắn. Cô lấy nẹp tre, đặt cánh tay gẫy của hắn cho thẳng thắn rồi buộc lại, bảo đội tải thương khiêng về tuyến sau.

Nhà văn Vũ Quốc Khánh cùng đồng nghiệp Phú Thọ tham quan Rừng thông Bản Áng ở Mộc Châu – Sơn La

Chính lúc đó, ánh đèn pin lóe lên, soi rõ vết thẹo dài bóng nhẫy trên má trái của hắn. Liên hét lên một tiếng rồi gục xuống. Anh em xúm lại, xốc Liên đứng dậy. Bất chợt, như nhớ ra điều gì Liên đòi mượn cây đèn pin trong tay Phiến. Cô dọi thẳng vào mặt tên địch bị thương. Đúng là thằng thám báo khốn nạn. Không trộn đi đâu được. Vết sẹo này, đôi mắt một mí trắng dã lồi như mắt lợn này, khuôn mặt đểu cáng và lỳ lợm này. Chính nó. Chính nó đã cướp đi đời con gái trong trắng của Liên.

Không thể chịu được nữa, Liên vung cây đèn lên, nhằm vào mặt thằng địch bổ xuống. Cây đèn chưa kịp bổ xuống thì bàn tay chắc khỏe của Phiến đã ghì chặt lại. Liên rít lên một tiếng đầy căm giận. Phiến ôm lấy cô, dìu cô ngồi xuống bên vệ cỏ. Anh lấy tay lau nước mắt cho Liên. Liên bải hoải, người rũ ra như tầu chuối héo. Lát sau Phiến giục:

– Thôi về đi em, về còn lo cho anh Hón!

Nghe tên anh Hón, Liên như bừng tỉnh lại, vội khoác túi bông băng chạy như bay xuống chân đồi. Lúc này trời đã rạng. Phía ngoài biển từng đám mây phớt hồng đã lan ra về đất mẹ.

VŨ QUỐC KHÁNH

(Còn tiếp)

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com