Phía sau trận chiến – Tiểu thuyết của Vũ Quốc Khánh – Kỳ 4

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 21:36

Hón ơi… là Hón con ơi!… Bầm nhận con dâu, nhận cháu nội rồi đây này…! Con sống khôn, chết thiêng…. phù hộ độ trì cho bầm…, cho vợ con con luôn mạnh chân khỏe tay…, con nhé!

Nhà văn Vũ Quốc Khánh. Ảnh: Nguyễn Đình Ánh

 

Chương XIX

 

Hón thoi thóp nằm trên tấm phản gỗ trong buồng nhà mệ Hai. Máu từ vết thương anh vẫn rỉ ra dù đã được băng bó. Vị bác sĩ được Thái Bình cho xe đi đón từ bệnh viên Tam Kỳ lên đang túc trực truyền huyết thanh cho anh. Tấm phản này chính là tấm phản Hón đã nằm trước đây khi được Miên vớt lên từ dòng sông Thu hồi đầu mùa lũ.

Thái Bình đã tìm mọi cách để cứu sống Hón, nhưng vết thương của anh quá nặng cho nên sự sống chỉ còn đếm được bằng giờ. Xung quanh Hón, những cặp mắt lo âu đổ dồn vào anh.

Mệ Hai, Miên, Liên và Chín Hạnh thay nhau ngồi bóp trán, nặn tay, nặn chân cho anh khỏi mỏi. Thỉnh thoảng họ lại chạy ra sân lau những giọt nước mắt. Phiến, Thái Bình, Tư Thới đang túc trực ở ngoài nhà, ngóng Bẩy Tiền. Chị theo đoàn xe chở gạo nên chưa hay tin dữ. Mọi tin tức về việc Hón bị thương đang cố được giữ kín. Nhân dân Nam, Bắc Hà Tam vốn đã quen thuộc với chàng trai xứ Bắc xông xáo, ham lam, ham làm nếu hay tin anh bị thương, chắc chắn chẳng cản được họ kéo đến thăm.

Hón mệt mỏi, khe khẽ hé mắt nhìn mọi người rồi lại nhắm nghiền lại.

Từ trong ký ức của anh, hình bóng người mẹ già nua, mái tóc gần như bạc trắng hiện lên đăm đắm nhìn anh. Anh hình dung ra trong căn nhà vắng tuềnh toàng, người mẹ già đang tựa cửa, nhìn lên dẫy núi Lưỡi Hái mờ mịt trong sương trắng chờ anh về. Nắng chiều nhạt nhòa, đọng lại trong ánh mắt mầu tro lạnh của bầm một nỗi buồn thảng thốt. Dáng lưng còng của bầm đi như gập người xuống, lần hồi, hắt vào đêm những tiếng thở dài não nề vì xa con, vì một thân một mình buồn tủi.

Cả một đời bầm lam lũ, lầm than, cơ hàn, cặm cụi. Miếng ăn nửa chừng như nghẹn đắng trong cổ họng vì nhớ con đến cháy dạ, bào gan mà con thì biền biệt nơi xa vắng. Giấc ngủ chập chờn, thoáng lại giật mình đánh thót, nghe tiếng mọt kêu nơi cánh ván tưởng như đạn réo bên con. Miếng trầu khô đắng, nằm yên trong miệng bởi không có cháu con đâm giã hộ. Bầm như người cô độc, lang thang trên con đường mòn hoang vắng dẫn về thung sâu lam sơn chướng khí. Tiếng con chim “bắt cô trói cột” như lầm lũi dắt mẹ đi.

Thế là con sắp lại đi xa, xa người mẹ già vĩnh viễn. May sao, con đã tìm lại được cho bầm người em gái mà bầm đã bặt tin từ thủa hàn vi, khổ hạnh. Biết đâu chẳng mang lại cho bầm chút hơi ấm khúc ruột trên, khúc ruột dưới lúc nhắm mắt xuôi tay.

Ở đời nước mắt chẩy xuôi. Cả đời bà ngoại tảo tần chỉ dành dụm được đôi nấm bạc để lại cho chị em bầm. Chính nhờ đôi nấm đó mà người Nam, kẻ Bắc dẫu chưa bao giờ biết mặt vẫn nhận được nhau, nhận được núm ruột họ hàng mình.

Dẫu sao, đến lúc này, lá xanh có phải rụng trước lá vàng thì cũng là để ý nghĩa ngày gặp lại thêm minh triết, rạng rỡ mà thôi. Con đi xa nhưng còn bạn bè con ở lại. Bao người con bản Mẫn mình dù ở nơi đâu vẫn chung thủy với quê hương dân bản. Họ là Lèng, Thuận. Họ là Mậu, Phiến. Họ sẽ ở lại bên bầm của con, bầm nhỉ?

Bỗng đôi mắt của Mậu hiện lên trong trái tim anh. Con mắt ấy đã theo anh suốt chặng đường hành quân đánh giặc. Lại nữa văng vẳng bên tai Hón, vẫn đâu đây câu hát xẩm hôm nào mà Lèng đã ca lên trong cái đêm thơ mộng đó.

Tất cả đã theo anh suốt con đường anh đi thăm thẳm từ Bắc vào Nam. Đằng xa ấy là bản quán nuôi anh khôn lớn, là núi Thằn Lằn, Cẩn Kheo, là dãy núi Lưỡi Hái cao ngân ngất trong mây mù, là dòng sông vòng vèo từ những cánh rừng xa thẳm đổ nước về tưới cho cánh đồng Lau, đồng Ràng, đồng Hóp của bản Mẫn mùa này, mùa khác trĩu bông, dầy hạt. Nơi ấy, có biết bao người gắn bó với cuộc sống, với Hón.

Hón mệt lắm rồi. Hơi thở đã đầy vẻ khó khăn. Đôi con mắt hấp háy của anh chưa khép được, dáng chừng như còn muốn chờ đợi một người bạn, một người chị, một người em, một người đồng đội thủy chung son sắt mà Hón đã may mắn được gặp trong bước đường chiến chinh đầy rẫy hòn tên, mũi đạn.

***

Phải đến non trưa thì Bẩy mới về đến Hà Tam. Dẫu cho pháo giặc vẫn ì oàng dội vào xung quanh các đồn bốt thì Bẩy vẫn muốn reo to lên rằng chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ. Chưa ai thông tin cho Bẩy cái tin sét đánh đó nên Bẩy vẫn hồn nhiên vừa đi, vừa chạy về nhà mệ Hai.

Phiến đón Bẩy ở ngõ. Nhìn bộ dạng thất thần của Phiến, Bẩy đã lờ mờ hiểu có chuyện gì nghiêm trọng lắm. Bẩy run run vội hỏi:

– Có chuyện gì vậy anh?

Đến khi nhìn thấy mệ Hai giàn giụa nước mắt, còn Liên thì bệt bã như người mất hồn thì Bẩy hoàn toàn hiểu ra cơ sự. Cô vội nhào tới, lạc cả giọng:

– Anh Hón đâu, anh ấy làm sao?

Mọi người ôm lấy Bẩy, bịt miệng không để những tiếng kêu của Bẩy loang ra. Thái Bình và Chín Hạnh khẽ bảo với cô đừng để cho Hón xúc động. Tính mạng của anh đang ngàn cân treo sợi tóc, chỉ cần một chút sơ tâm là anh sẽ rơi xuống đáy vực thẳm. Bây giờ, chỉ có thể giữ anh ở lại với đời giây nào quí giây ấy mà thôi.

Đất bằng như sụp xuống dưới chân Bẩy. Trời xanh như quay cuồng trên đầu Bẩy. Cô rẽ mọi người, rũ như cuộng rau héo đi vào căn buồng nơi Hón đang nằm thiêm thiếp.

Bẩy Tiền đau đớn đến cùng cực. Chẳng lẽ nào cuộc đời lại bất công đến thế này sao? Vừa mới mấy hôm trước, Bẩy còn lo rằng mình sẽ ngã xuống trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù mà không được hưởng ân huệ Trời Phật ban cho. Cô đã bằng mọi cách để có được anh trong giờ khắc điên loạn đó, dẫu biết rằng anh đến với cô chỉ bằng tình thương và lòng trách nhiệm. Thế mà ngày hôm nay, anh đã sắp vĩnh viễn ra đi.

Nghe mọi người Bẩy không dám khóc thành tiếng, nhưng nước mắt cứ trào ra ràn rụa. Cô rũ rượi như con gà bị cắt tiết ngồi bên anh.

Khuôn mặt anh đã trắng bệch như sáp, nhưng không vì thế mà phai đi vẻ hiền lành, phúc hậu. Sự chất phác của con người có nhiều ân điển của núi rừng như còn nguyên trên đầu môi, khóe mắt anh. Bẩy nhớ vẻ rụt rè của Hón khi lần đầu gọi Bẩy bằng em, nhớ cái bối rối của anh khi được Bẩy xiết chặt trong vòng tay đê mê cuồng nhiệt, nhớ cái si mê man dại, tưởng đến ngỡ ngàng, khi Bẩy chủ động dâng hiến tất cả cho anh trong cái đêm giữa rừng cùng tiếng mưa sà sã. Hình bóng anh luôn đi về trong nỗi nhớ vô bờ của Bẩy.

Thế mà tất cả đã sắp trôi về vô cùng, vô tận.

Chiến tranh như con xoáy nước nhấn chìm hết thẩy, chỉ để lại ở giữa một vòng tròn định tâm hun hút. Ở dưới sâu kia, mọi sự đau thương mất mát, mọi sự dũng cảm kiên cường đều hòa trộn vào nhau, tạo thành lực đẩy khiến cho dòng sông tiếp tục chẩy xuôi, đưa phù sa bồi đắp nên những cánh đồng phì nhiêu nơi hạ lưu quê hương mầu mỡ.

Bẩy như tê dại cả tâm hồn và thể xác trước nỗi đau quằn quại này. Tự nhiên Bẩy nhớ tới Mậu. Tất cả mọi người ở đây trừ Hón ra, chưa ai nhìn thấy Mậu. Bẩy chưa thấy ai xinh như Mậu, dù cho chính Mậu đã làm lòng Bẩy như thất điên bát đảo khi gặp trong buổi chiều hôm đó.

Tình yêu của họ nào có tội tình gì. Dẫu cho Bẩy có đem cả đời mình che chở, thương yêu, săn sóc cho Hón thì cô cũng như hòn đá tảng ở bên bờ, chẳng được như cái lá trôi theo cùng dòng nước. Tình yêu của Hón và Mậu mãi mãi quyện vào nhau. Dẫu cho vật đổi sao dời, họ vẫn tan ra cùng nhau ở đâu đó trên thiên hà định mệnh này.

Còn Bẩy, Bẩy là người đến sau, có muốn tan ra cùng họ cũng không được. Mà Bẩy cũng không muốn thế. Bẩy vẫn chỉ muốn là mình, là hòn đá tảng để cho họ vui, tung xoáy nước vào Bẩy, thậm chí neo đậu vào Bẩy; để rồi sau phút giây yên tĩnh họ lại cùng nhau rong ruổi đến cùng trời cuối đất, đem tình yêu đến xây đắp nên những miền đất lạ.

Tự nhiên, Bẩy ước ao đến ngày thống nhất được ra quê Hón đón bầm Hón vào ở với Bẩy, chăm sóc bầm để Hón thanh thản đi về nơi bất tử. Anh ơi, em thay bầm, thay chị Mậu ở với anh đến giây phút cuối cùng trước lúc anh vời vợi đi xa cùng mênh mang trời đất! Anh có hiểu lòng em không?

Bất giác, Bẩy nắm lấy bàn tay của Hón. Bàn tay mềm nhưng lạnh. Cái mềm của sự sống và cái lạnh của định mệnh, của chia phôi.

Hình như Hón đã chờ đợi giây phút này từ trong sâu thẳm. Miệng anh mấp máy, rung lên. Lời nói của anh xem chừng rất mệt mỏi:

– Bẩy ơi … gạo … đã về … kho đủ … chưa?

– Đủ rồi anh ạ.

– Cho anh … chào … mọi người … chào …anh em … đồng … chí nhé! Em .. ôm … hôn anh … đi! …

Bẩy choàng dậy, ôm lấy Hón hôn như điên như dại vào đôi môi khô ráp và lạnh lẽo của anh.

Người anh khẽ rung lên như mãn nguyện. Anh nấc một tiếng, hai tay đang ôm Bẩy nhẹ buông thõng xuống. Lọ huyết thanh truyền cho anh ngừng chẩy. Anh đã trôi vào khoảng không vô tận.

Một loạt AK chỉ thiên nổ giòn thay cho muôn lời vĩnh biệt.

Bẩy hộc lên như điên như dại. Nước mắt trào ra cùng tiếng lòng nhức buốt, nức nở. Xung quanh Bẩy cũng vậy, đầy tiếng khóc. Người thì khóc tu tu như đứa trẻ, người thì ngậm ngùi như em khóc anh, người thì sà sã như mẹ gọi con, như vợ khóc chồng…

Tư Thới dìu ông Năm Long sang khâm liệm cho Hón, rồi phủ trên quan tài anh lá cờ Tổ quốc thắm đỏ. Thái Bình chít khăn tang trắng, đờ đẫn bên linh cữu anh. Phiến phát cho mọi người chiếc băng tang đen. Bẩy Tiền xin được chít khăn xô. Khi mệ Hai lóng ngóng quấn khăn xô trắng lên mái đầu xanh của Bẩy thì Bẩy chợt nhớ ra xin được chít thêm vòng xô trắng nữa:

– Cho con thay chị Mậu để tang cho anh Hón!

Bà con Hà Tam đưa Hón về yên nghỉ trên doi đất đầu ấp, hướng ra sông Thu, như muốn anh luôn gần gụi với mảnh đất Hà Tam, với dòng sông Thu gắn bó.

Đêm hôm anh về với đất, pháo ta công kích đỏ rực trời phía đằng Núi Cấm. Đồng bào ở Hà Tam, ở xứ Quảng, người trẻ, người già, con trai, con gái hân hoan mong chờ ngày giải phóng. Họ bắt tay nhau, chào đón nhau, ôm hôn nhau trong niềm vui chuẩn bị cho ngày chiến thắng. Ai cũng nghĩ đến Hón và thương tiếc vì anh không được chứng kiến cảnh này.

Bẩy thất thần trước ngôi mộ còn thơm mùi đất mới. Chị thắp thêm hương cho Hón như để anh khỏi lạnh.

Xa xa, chòm sao Bắc Đẩu đã nằm ngang, in hình trên nền trời đầy sao chi chít. Trong các ngôi sao đó, có một ngôi sao chính Bắc đang đau đáu rọi sáng trên bầu trời.

Tranh của họa sĩ Trần Lệ Thủy ở Phú Thọ

Chương XX

 

Tin miền Nam hoàn toàn giải phóng như liều thuốc thần tiên khiến bản Mẫn rung lên vì hân hoan, sung sướng. Người già như trẻ lại, tiếng cười rộn rã như trút được nỗi lo âu triền miên qua những ngày đạn bom, khói lửa. Đám đàn bà có chồng đi bộ đội má như hồng lên, người răng đen tưởng như óng lại, người răng trắng trông có vẻ bóng ra, tiếng nói họ trở nên êm ái dịu dàng và tay chân họ cũng tựa hồ mềm mại.

Nhưng nào đã có ai trở về. Dần dần cuộc sống lại trở về nhịp cũ, ai nấy vẫn phải lo làm lo ăn. Nỗi niềm mong ngóng riêng tư đều gửi về đêm cùng những tiếng thở dài chờ đợi.

Bà bủ Hón cũng vậy. Già rồi, chẳng có công có việc gì làm nên bủ suốt ngày ra ngẩn vào ngơ, hết ngóng ra con đường liên tỉnh chạy ngang qua xã, lại rũ người ngồi trên thích nước, ruồi bậu không thèm đuổi.

Bủ nóng lòng chờ anh Hón con bủ về.

Người già tính khí thất thường, lắm lúc như con trẻ. Nhiều khi mắt bủ rạng lên. Hỏi bủ, bủ bảo anh Hón nhà bủ sắp trở về. Bủ sẽ cưới vợ cho anh Hón, anh Hón sẽ đón nàng dâu về cho bủ. Bủ sẽ được chăm con trai, con dâu. Bủ sẽ được ê a cùng cháu nội, sẽ được lũn cũn đi theo chơi cùng với nó.

Lắm lúc bủ lại ngơ ngác hỏi Lèng:

– Lèng ơi, sao anh Hón nhà bủ chẳng thấy thư từ gì về cho bủ nhỉ? Anh Phiến đã có thư về rồi, anh ấy bảo đang ở mặt trận biên giới Tây Nam. Tây Nam là ở đâu? Giải phóng rồi cơ mà, sao lại phải ở đấy nữa? Còn anh Hón nhà bầm ở mặt trận nào vậy Lèng?

Rồi bủ lại hỏi:

– Cả chị Mậu nữa, chẳng biết có ở gần anh Hón không? Thằng Mỹ cút rồi, sao các anh, các chị ấy chưa về với bầm?

Hỏi rồi bầm lại rưng rưng khóc. Lèng phải nói cứng:

– Bầm lại thế rồi! Thằng Mỹ đã cút nhưng vẫn còn thằng giặc muốn xâm chiếm nước mình. Anh Hón, chị Mậu còn phải đi đánh nó chưa về được. Như anh Phiến đấy, thư về mà người đã về được đâu. Bầm cứ mong nhiều anh Hón nóng ruột là không đánh giặc được đâu. Bầm nghe con, đừng mong nữa nhé!

Bà cụ thần người ra, thôi không hỏi nữa, nhưng trong lòng bủ, có họa là gỗ đá mới thôi mong nhớ con trai mình biền biệt chưa về. Nhiều ngày bủ bần thần nhìn lên đỉnh núi Lưỡi Hái xa mờ ẩn hiện trong màn sương trăng trắng. Xa vời vợi nơi phương trời mịt mùng đó, khuất đằng sau những nhấp nhô đèo núi kia là nơi bủ chẳng bao giờ có thể leo đến được. Đấy là phía trời Nam, nơi con trai bủ đang cầm súng một mất một còn với kẻ thù của dân tộc.

Những nếp nhăn nheo trên khuôn mặt già nua của bủ thỉnh thoảng lại rung lên thoắt hồng, thoắt tím. Chặng đường suốt mấy chục năm trước đây bủ đã đi qua, lúc ẩn lúc hiện, kéo bủ về với những quá khứ thời bủ cùng chồng còn trẻ. Lúc ấy, bủ sức còn dài, vai còn rộng. Cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc đã bứt bủ ra khỏi cuộc sống bên lũy tre làng cùng với cây đa, mái đình, giếng nước nơi quê hương thân yêu để lên với đồng đất trung du theo cách mạng.

Rồi bủ đến nơi đèo heo hút gió, sơn cùng thủy tận này. Người bạn đời đầu gối tay ấp của bủ đã gửi xương cốt nơi đây, bách tuế vân du, đi về cùng thế giới những người hết lo hết nghĩ, để bủ lại bơ vơ cùng núi rừng trập trùng, hoang vắng. May mà bủ còn có Hón, giọt máu nghĩa tình cốt nhục nối dõi đời bủ với đời sau, làm sợi dây thắt chặt giống nòi nội ngoại. Chiến tranh và giặc giã chưa cho bủ có điều kiện đưa con về nơi quê cha đất tổ để ân đền, nghĩa trả, hương khói tổ tiên thì con bủ lại lên đường đánh giặc.

Đất nước mình liên miên giặc giã. Cả cuộc đời bủ đã chìm trong khói súng và đời con trai bủ cũng vẫn phải đương đầu với đạn bom chết chóc, mãi chưa thôi. Con đường bủ đã đi, kéo một vệt dài từ đồng bằng lên miền núi tưởng đã là xa, thế mà con đường con trai bủ đi “xẻ dọc Trường Sơn” lại còn xa hơn từ Bắc vào Nam hàng ngàn dặm thẳm. Mắt bủ đã mờ khi nhìn lên đỉnh núi hướng con bủ hành quân mà chưa thấy bóng con trở về, dẫu biết rằng đất nước mình đã chiến thắng. Bủ thấy lòng như có lửa đốt.

Công việc của Lèng bây giờ mỗi ngày một bận thêm, bởi Lèng đã được Đại hội Đảng bộ bầu vào trọng trách Bí thư Đảng ủy xã. Bây giờ không còn những đợt tuyển quân ồ ạt như trước, nhưng thay vào đó là việc lo cơm ăn, áo mặc, nhu cầu học hành, khám chữa bệnh của nhân dân ngày một cao hơn, khiến Lèng vẫn đầu tắt mặt tối, có khi còn hơn ngày trước.

Thực ra tờ giấy báo tử của Hón đã nằm trong tủ của Lèng hàng tháng nay, nhưng Lèng xin xã chưa làm lễ truy điệu vội. Bủ Hón đã bẩy chục tuổi rồi, nhận được tin này liệu có chịu nổi không? Rút kinh nghiệm bà bủ mẹ anh Khang tháng trước đấy, xã đưa giấy báo tử con bủ về, chưa kịp làm lễ truy điệu thì bủ đã xốc, rồi “đi” luôn, khiến cả bản như đứt từng khúc ruột.

Lèng cũng đau đớn không kém. Với anh Khang, tuy hai người chưa có một lời thề thốt yêu thương, nhưng Lèng vẫn luôn coi anh Khang như người có nhiều duyên nợ. Ít ra anh cũng là chỗ để Lèng bấu víu. Thời buổi chiến chinh này, mật ít khoai nhiều, không hy vọng bấu víu vào một mối tình nào thì chẳng hóa ra bơ vơ, cơ nhỡ à? Bây giờ anh Khang hy sinh, chỗ dựa và hy vọng của Lèng thế là tan biến. Lèng đau đớn cũng như chồng mình là liệt sỹ vậy.

Còn với Hón, từ lâu Lèng coi Hón như người tri kỷ. Chẳng được yêu nhau bởi không có duyên, hợp số, chứ ngày ấy Lèng mặc kệ tình cảm của Mậu, cứ chen vào thì biết đâu bủ Hón đã là mẹ chồng và bủ đã có cháu bồng, cháu bế.

Bây giờ thì cả Khang và Hón đã trở thành liệt sỹ. Tấm bằng Tổ Quốc ghi công đã lưu danh thiên cổ tên tuổi họ. Lèng chua chát nghĩ chẳng bao giờ còn gặp lại họ, trừ là có thế giới bên kia.

Lắm lúc Lèng thon thót giật mình. Ngồi trong bếp nhìn ra thích nước, Lèng thấy bủ Hón thẫn thờ nhìn ra con đường, nơi những người lính chiến thắng giặc giã trở về, mà lòng Lèng đau như dao cắt.

Hón đâu có thể trở về được nữa. Anh đã hòa vào núi sông, hòa vào mầu đỏ thiêng liêng trên lá cờ Tổ Quốc. Những bài hát sau ngày đất nước chiến thắng là lời của dân tộc ru anh ngủ mãi mãi ngàn thu.

Hón đã đi vào cõi vĩnh hằng. Tổ Quốc và nhân dân đã đón Hón về với thế giới người hiền, nhưng bủ Hón thì vẫn còn đó với những vết nhăn nheo trên khuôn mặt hàng ngày mong ngóng con trai trở về.

Chỉ có Lèng biết sự mong ngóng của bà bủ già nua kia đã là vô vọng. Nhưng biết làm sao bây giờ. Liệu Lèng giấu bủ cái tin dữ dằn ấy được bao lâu nữa?

***

Thế rồi bản xa, bản gần lại chộn rà, chộn rộn. Bắt đầu là những anh lính giải phóng đầu đội mũ tai bèo xanh, chân đi dép râu, vai đeo ba lô bạc mầu còn nồng mùi thuốc súng vội vã hành quân trên đường. Họ vượt qua chiến trận đạn bom chiến thắng trở về. Trên nắp những chiếc ba lô ấy lủng lẳng chiếc khung xe đạp nữ điệu đàng, hoặc những con búp bê nhựa to bằng đứa trẻ mới đẻ, mắt biết nhắm mở như ước mơ thẳm sâu của họ dành cho hậu phương. Những vật dụng ấy, người dân sơn cước coi như là của lạ.

Họ đi một mình, thỉnh thoảng mới có một nhóm hai người. Hình như nóng ruột về nhà nên bước chân họ cứ vội vã, mặc những ánh mắt đầu tiên là vui mừng vì tưởng người bản mình, rồi sau đó lại thất vọng vì hóa ra chẳng phải.

Dân bản Mẫn hết rộ lên nỗi niềm mừng vui lại sa vào hụt hẫng. Họ khắc khoải mong chờ người thân yêu. Bao nhiêu người ra đi cơ mà, sao mãi chưa thấy ai trở lại?

Cuối cùng, mong ngóng mãi cũng đến lúc thành hiện thực.

Một buổi trưa giữa thu, khi những cánh chuồn chuồn ớt đang chơi vơi trên khoảng sân hợp tác vắng lặng thì một chiếc xe con đít vuông, biển đỏ của cơ quan quân sự hấp tấp đỗ xịch trên con đường giữa bản. Mọi người từ các ngôi nhà sàn quanh đấy túa ra.

Anh cán bộ mang quân hàm trung tá mở cửa xe, dìu anh bộ đội chân đi không vững xuống. Anh bộ đội đầu trọc lốc, mặt mày hốc hác, mắt thô lố, chỉ cái miệng là cười tươi, giơ tay chào mọi người:

– Xin chào bà con dân bản!

Mọi người ngỡ ngàng. Bỗng bủ Phúc kêu lên thất thanh:

– Ối bà ơi, anh Thuận nhà mình về! Có phải Thuận đấy không con?

– Vâng! Con đây bố bầm ơi!

– Trời ơi con tôi! Đúng con tôi thật rồi!

Dân bản ồ lên, xúm đông, xúm đỏ vây lấy Thuận. Bà bủ Phúc hớt hải rẽ mọi người xô lại, ôm chầm lấy con, hết nắn đôi tay khẳng khiu lại nắn đôi chân tàn tạ, nước mắt giàn giụa:

– Ối trời ơi! Sao con tôi lại ra nông nỗi này! Trời ơi là trời!

Đúng là thế thật. Anh Thuận con bủ khi nhập ngũ là một thanh niên đỏ da thắm thịt, mạnh khỏe, nhanh tay nhanh chân, khôi ngô tuấn tú. Thế mà giờ đây da thịt nhăn nheo, tàn tạ thế này, sao mà chẳng xót ruột xót gan?

Thuận đứng giữa vòng vây của dân bản Mẫn. Mọi người nhốn nháo nhộn nhạo. Tiếng thăm hỏi mừng vui khi gặp lại Thuận rộ lên. Người ta hân hoan trước việc Thuận trở về. Anh là người lính đầu tiên về cùng dân bản sau ngày giải phóng.

Thế nhưng bên cạnh những ồn ào vui mừng đó cũng có những ánh mắt nghi hoặc và những lời to nhỏ thầm thì:

– Sao bảo hắn chiêu hồi địch cơ mà. Thế là thế nào nhỉ?

Thuận đưa tay vịn vào đồng chí trung tá đứng bên, cố gắng đứng vững trong sự hoan hỉ lẫn ái ngại của gia đình và dân bản. Anh nói rành rọt:

– Thưa bố bầm, thưa bà con dân bản! Đây là anh Bằng, trước là bí thư chi bộ nhà tù Phú Quốc, người đã dìu dắt tôi vào Đảng. Hôm nay, anh thay mặt cấp trên về thăm bản Mẫn ta.

Anh Bằng cười rất tươi chào mọi người. Anh thay mặt Ban chỉ huy Quân sự tóm tắt những hành động anh hùng của Thuận đã kiên quyết giữ vững khí tiết người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trước những mua chuộc và đòn roi của kẻ thù trong nhà tù; xứng đáng với danh hiệu Đảng viên cao quý. Anh xin phép dân bản đọc quyết định của Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Chiến công cho quân nhân Hà Văn Thuận để ghi nhận công lao và thành tích của anh trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc.

Những tiếng ồn ào lại nổi lên:

– Có thế chứ! Người bản Mẫn mình anh hùng như thế chứ!

Người ta xúm vào, công kênh Thuận lên. Ai cũng muốn được dành cho Thuận những niềm tôn kính.

Thì ra sau hiệp định Pa-ri, anh Thuận được trao trả từ trại tù Phú Quốc. Khi ấy anh chỉ còn da bọc xương, hai bánh chè bị vỡ, các đầu ngón tay nát bét không còn cảm giác do bị cai ngục đóng đinh tra tấn dã man tàn ác; nội tạng của anh bị phá hủy do chế độ hà khắc của nhà tù nên ăn gì lại đi ngoài ra như thế. Được Nhà nước đưa về chữa trị ở quân y viện theo chế độ đặc biệt, anh nghĩ mình suốt đời tàn phế nên xin cấp trên chưa báo về gia đình vội sợ ảnh hưởng tới tâm lý gia đình và dân bản khi đất nước còn chiến tranh.

Còn anh Bằng, sau khi vượt ngục thành công đã bắt liên lạc với du kích trên đảo Phú Quốc. Anh được tổ chức đưa vượt biển về đất liền tham gia bộ đội Miền chiến đấu ở mặt trận Tây Nam bộ.

Sau giải phóng, biết tin Thuận được trao trả, anh đã lặn lội đi tìm và dành nhiều thời gian tâm sự động viên Thuận an tâm chữa bệnh, trở thành người anh tinh thần của Thuận.

Sau mấy năm được các bác sĩ hết lòng chữa trị, giờ Thuận đã khá lên nhiều. Anh Bằng được cấp trên giao cho việc trực tiếp đưa Thuận về thăm gia đình trước khi đưa về Hà Nội tiếp tục chữa trị.

Niềm vui và lòng hãnh diện vì người con bản Mẫn chiến thắng trở về trào lên được một lúc rồi lại lắng xuống. Trước hình ảnh da thịt tiều tụy của con mình, vợ chồng ông Phúc đau đớn thương con, giàn giụa nước mắt. Bà con dân bản cũng không kìm được xúc động, nhiều người khóc rưng rức. Ai cũng muốn được ôm lấy Thuận, chia sẻ những tổn thất không gì bù đắp được cho anh. Chàng trai bản Mẫn ra đi đã đóng góp sức lực, trí tuệ và máu xương cho công cuộc giải phóng đất nước của toàn dân tộc. Đó là vinh quang của tất cả mọi người. Vì vậy đối với dân bản Mẫn, Thuận đã là người anh hùng của cả bản.

Sau giờ phút đau đớn, xúc động, mọi người xúm vào động viên vợ chồng bủ Phúc:

– Thôi bủ ạ, anh Thuận còn về được là bản ta còn phúc! “Còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây” lo gì! Rồi anh ấy sẽ mạnh khỏe lại mà bủ!

Thằng em chú xốc anh Thuận lên lưng, chạy lên cầu thang. Mọi người rầm rập lên theo, mừng vui như người nhà mình về vậy.

Nhìn tấm huân chương chiến công Nhà nước trao tặng anh Thuận được treo trang trọng trên vách gỗ, bủ Phúc xúc động vì sự đóng góp của con mình, mắt bủ rưng rưng lệ.

***

Thế rồi một buổi chiều mùa đông. Sương buông nhẹ trên cánh đồng lấp xấp nước vừa bừa ngả rạ. Gió vi vút đuổi nhau khiến đàn trâu chen vào nhau, mõ kêu lốc cốc trên đường về bản.

Chuyến xe khách cuối cùng từ từ dừng lại ở cuối bến. Anh thanh niên tay ôm chiếc va li da đỡ bà bủ già dáng chừng là mẹ cùng một cô gái mặc quân phục đã bạc mầu, đầu đội mũ tai bèo, bế đứa trẻ chừng hơn ba tuổi xuống xe.

Họ hỏi thăm đường về bản Mẫn.

Lèng đang lúi húi nấu cơm. Bủ Hón như mọi ngày ngồi trên sàn thích nước. Đôi mắt xám tro thất thần nhìn con đường dẫn về bản Mẫn. Bủ chẳng chú ý gì ngoài việc xem có anh bộ đội nào vào bản.

Mãi đến khi anh thanh niên vận bộ véc sẫm nói giọng miền Trung nằng nặng hỏi thăm, bủ mới ngẩng lên, ngơ ngác:

– Anh hỏi ai?

Lèng từ trong bếp chạy ra. Anh thanh niên từ tốn:

– Cho con hỏi nhà bủ Hón ạ?

– Vâng… là tôi đây!

Bà bủ cùng đi mặt méo xệch, nói không ra tiếng:

– Trời Phật ơi, chị Thiện… đó như? Em là Thà… đây mà! Có nhận… ra em không?

Nói rồi, bủ lẩy bẩy trèo lên cầu thang. Lèng nhanh chân đỡ bủ, dìu lên nhà. Bủ Hón sau phút giây ngơ ngác bởi không tin vào mắt mình, lập cập ôm choàng lấy bủ Thà:

– Ối giời ơi… em đấy như? Đúng là em tôi thật rồi!… Em ơi là em ơi!… Sao em lại lên được đây?

Hai bà bủ ôm lấy nhau nức nở.

Thằng bé con thấy lạ, khóc ré lên. Lèng xuống tận chân cầu thang đón họ lên nhà. Hai bủ bố bầm Lèng cùng xúm lại. Bủ Hón hấp háy đôi mắt đầy nước, lập cập hỏi:

– Thế các người… này là ai?

Anh thanh niên vội thưa:

– Con là Thái Bình, cháu ruột của già đây già ơi!

– Thế như?… To lắm rồi nhỉ? Anh Hón nhà này… cũng to bằng anh đấy!

– Còn đây là cháu nội của già, con anh Hón đấy già ạ!

Bủ Hón ngơ ngác như đứa trẻ. Bủ loạng choạng ôm lấy Trường Sơn mừng rỡ như đón mẹ về chợ vậy:

– Ối con ơi là con… ối cháu ơi là cháu! Sao dẫn nhau về không bảo bà lấy một nhời? Thế mẹ cháu đâu?

Người phụ nữ mặc quân phục bạc mầu lúc này mới lên tiếng, giọng chị đẫm nước mắt:

– Là con đây bầm ơi! Con là Bẩy Tiền mẹ của cháu ạ!

Lèng hơ hới đến bên người phụ nữ:

– Thế ra chị là vợ anh Hón?

– Chưa ạ. Em chỉ có con với anh Hón thôi. Khi hi sinh, ảnh cũng chưa biết…

Lèng vội giơ tay định bịt miệng không cho Bẩy Tiền nói ra điều này vội nhưng không kịp nữa. Bủ Hón vội hỏi, giọng méo đi, thảng thốt:

– Chị nói… sao? Thế ra… anh Hón… con tôi… đã hy sinh… rồi như?

Chẳng kịp nghe câu trả lời, hai tay bủ run run như bắt chuồn chuồn rồi gục xuống. Lèng đã chuẩn bị cho tình huống này từ khi có giấy báo tử Hón, vội lấy chai dầu gió ra, bảo Bẩy Tiền xoa khắp người cho bủ, lại lấy sơ-ranh, bẻ mấy ống thuốc tiêm cho bủ. Lúc sau, bủ mới dần hồi tỉnh.

Vừa tỉnh lại bủ đã lại rên rẩm khóc con:

– Ối Hón ơi… là Hón ơi! Sao anh vội vã bỏ bầm ở lại… mà ra đi thế Hón… ơi! Bầm sao mà sống nổi khi vắng con, ơi… con ơi! Giời ơi là giời… lá vàng giời còn để trên cây, mà sao lá xanh giời… vội bắt đi thế? Ới giời ơi là giời….

Tiếng khóc đứt đoạn và ai oán của bủ Hón khiến mọi người không sao kìm được nước mắt. Mệ Hai và Bẩy cũng vật vã, ngần ngật. Thái Bình đau đớn nuốt nước mắt vào trong, khư khư ôm lấy chiếc va li đựng hài cốt của Hón.

Lèng chẳng biết làm sao nữa. Dù đã biết tin này từ trước nhưng chỉ đêm đêm chị mới dám thút thít khóc thầm, còn sớm mai, với trọng trách Bí thư Đảng bộ xã chị vẫn phải tỏ ra bình thản. Bây giờ cơn đau này mới được bung ra. Lèng ôm chặt cháu Trường Sơn vào lòng như cứu cánh, nấc lên rấm rứt.

Bủ Hón yên được một tí, lại vật vã, đau đớn gọi con. Khuôn mặt già nua chằng chịt những đường nhăn của bủ, hết đỏ rồi lại chuyển sang xanh tái. Mắt bủ thất thần. Bủ không còn làm chủ được mình nữa. Mồm miệng bủ méo xệch đi, tiếng khóc nghẹn lại. Bủ chìm sâu vào cơn mê sảng.

Trong lúc mê bủ thấy anh Hón con trai bủ đang bay từ đỉnh núi Lưỡi Hái xuống, giang tay ra dắt bủ. Vẫn mái tóc rễ tre húi vội, vẫn nụ cười đôn hậu, Hón đang nựng con như ngày nào bủ nựng Hón. Tiếng Hón như da diết, van nài bủ hãy dành tình thương của bủ cho giọt máu của anh, hãy dành tình yêu của bủ cho người con gái miền Trung đã đến cùng bủ.

Rồi bủ lại tỉnh.

Rất nhiều bà con trong bản kéo nhau đến nhà Lèng. Họ muốn nói lời an ủi cùng bủ Hón. Mệ Hai cùng con cháu và mọi người xúm lại quanh bủ. Những bàn tay ấm nóng nắm lấy bàn tay nhăn nheo của bủ. Những lời động viên chia sẻ cùng bủ trước nỗi đau mất mát to lớn này.

Bẩy Tiền thưa xin được lập bàn thờ thắp hương cho anh Hón.

Lèng lập tức cho chi đoàn thanh niên xóm đến dọn dẹp căn nhà của bủ Hón, rồi tự mình thu dọn đưa bủ về nhà. Bức ảnh Hón có dải băng tang, được Bẩy đặt lên bàn thờ, dưới di ảnh của bố. Chiếc va li hài cốt Hón, được đặt ngay ngắn dưới bàn thờ.

Những nén hương thơm được thắp lên. Những cái vái tay run run. Những giọt nước mắt hôi hổi. Bức ảnh Hón đang cười với mọi người như nhòe đi. Thái Bình cúi đầu lậy trước bàn thờ. Bủ Hón nhìn trân trân vào di ảnh Hón.

Lát sau mệ Hai lựa lời nói với chị:

– Thôi, già ạ, anh Hón đã trọn vẹn tấm lòng son với nhân dân, với Tổ Quốc. Anh ấy hy sinh nhưng còn để lại giọt máu của mình cho già. Vậy xin già cho cháu nội Trường Sơn về nhận ông, nhận bà, nhận bố, nhận tiên tổ họ mạc. Cũng xin già rộng lòng thương cho chị Bẩy Tiền được làm dâu con nhà mình, mẹ nhận con, con nhận mẹ để vong linh anh Hón dưới chín suối được thanh thản.

Vừa nói bủ vừa dắt tay Trưởng Sơn lại trước bà nội. Cặp mắt Trường Sơn trong veo, con ngươi đen nhánh thơ ngây nhìn bà nội.

Bủ Hón run run. Bủ nhìn Trường Sơn như ngây như dại.

Đúng rồi.

Con mắt này, cái nhìn này là của Hón khi còn bé tý khát sữa, vừa rít lấy rít để, vừa nhìn bủ ra chiều tin cậy vì được mẹ ôm ấp đây mà.

Nét mặt này là nét mặt của Hón lúc còn trẻ con mỗi khi mải chơi bị mẹ quở mắng, biết thân biết phận chịu lỗi đây mà.

Nết cười này chính là nết cười của con trai bủ hân hoan khi đi cầy đồng Ràng tháng một, đi bừa đồng Hon tháng chạp, đi gánh lúa đồng Lau tháng năm, đi trục lúa đêm tháng mười. đi bắt giặc lái ngày mưa ngâu tháng bẩy đây mà.

Tất cả như được tạc ra từ nguyên mẫu. Làm sao mà trộn lẫn đi đâu được.

Không còn nghi ngờ gì nữa Trường Sơn đúng là hình bóng của con trai bủ.

Nó chính là phiên bản của giọt máu bủ dứt ruột đẻ ra. Nó đúng là ân tình nối dài của người chồng đầu gối tay ấp quá cố của bủ.

Bủ thấy thấp thoáng đâu đây ánh mắt của con trai bủ đang nũng nịu nhìn bủ như hồi còn thơ dại. Con bủ đã về Giời nhưng Giời đã để bóng dáng của nó lại cho bủ đây rồi.

Thế là từ nay bủ lại được âu yếm, cưng nựng Trường Sơn. Bủ lại được để dành khúc sắn nướng bở tung, lóng cơm lam thơm phức, bát cháo hoa mộc mạc cho nó. Bủ lại được dắt tay đưa nó bi bô đến lớp, lại được ôm nó mỗi khi nó đi học về.

Giấc mơ vừa qua như lời Hón nhắc nhở bủ. Bủ tự trách mình vì nỗi đau thương con đã lơ là với cháu. Trường Sơn chính là hạnh phúc mới của bủ do chính con trai bủ mang lại cho bủ. Dù con bủ hy sinh nhưng con bủ đã tạc lại dáng hình để lại để bủ lấy đó làm chỗ dựa. Phúc Đức này thất là to lớn.

Nhà thơ Phan Hoàng và nhà văn Vũ Quốc Khánh hội ngộ ở Mộc Châu. Ảnh: Nguyễn Đình Ánh

Cũng tự nhiên, trong lòng bủ trào dâng nỗi niềm cám ơn người phụ nữ miền Trung kia đã chia sẻ cùng con trai bủ trong khi nó đi đánh Mỹ. Chị đã ở bên Hón trong giây phút lâm chung, đã nhận những lời trăng trối của Hón mang về cho bủ. Bủ đã làm mẹ nên bủ hiểu nỗi vất vả mang nặng đẻ đau của chị. Hôm nay chị lại đưa thằng cháu đích tôn Trường Sơn của bủ về đây để bủ nhìn thấy hình bóng của con trai bủ. Nếu không có Bẩy Tiền thì làm sao bủ còn được thấy hình hài của Hón qua vóc dáng Trường Sơn này nữa. Chính Bẩy đã là người đã mang nặng đẻ đau, nối dài sợi dây huyết thống dòng họ của bên nội, bên ngoại con trai bủ, điều mà không chỉ bủ mà cả dòng họ nội ngoại của Hón phải biết ơn. Nhờ Bẩy, tình thương yêu của bủ trước chỉ chăm chút dành cho một mình con trai, nay lại được yêu thương nhiều hơn cho cả con dâu và cháu nội.

Thế là chính Bẩy Tiền là người mang lại tất cả niềm vui và tiếp theo bủ biến lòng hãnh diện của người phụ nữ tề gia nội trợ thành hiện thực trong gia tộc và trong bản quán quê hương. Vậy thì sao bủ nỡ thơ ơ với con người ân nghĩa này được?

Tự nhiên ngọn lửa đượm nồng của tình mẫu tử như được thổi bùng lên sưởi ấm cõi lòng đang lạnh giá, già nua của bủ.

Bủ nghẹn ngào:

– Vâng, anh Hón mất đi… tôi đứt từng khúc ruột. May mà Giời còn thương tôi… cho chị Bẩy đem cháu tôi về đây! Đấy là cái tình của chị Bẩy đối với cả nhà này, cả người đã khuất và người còn sống. Trường Sơn… là giọt máu của anh Hón. Tôi không nhận chị ấy, không nhận cháu tôi thì nhận ai… Âu đấy cũng là phúc đức… Con ơi, con lại đây với bầm… Cháu ơi cháu lại đây với bà nào!

Bẩy Tiền đưa con lại với bủ Hón.

Bủ vừa khóc vừa ôm lấy cháu nội, ôm lấy con dâu, lại cầm tay cháu cho cháu vái trước di ảnh bố nó:

– Hón ơi… là Hón con ơi!… Bầm nhận con dâu, nhận cháu nội rồi đây này…! Con sống khôn, chết thiêng…. phù hộ độ trì cho bầm…, cho vợ con con luôn mạnh chân khỏe tay…, con nhé!

Nước mắt bủ lại ứa ra, lăn dài trên gò má nhăn nheo, rỏ từng giọt vào đầu cháu nội, thấm sang cả vai áo quân phục đã bạc mầu của Bẩy.

VŨ QUỐC KHÁNH

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com