Chuyện xứ Đồng Hóp – Truyện thiếu nhi của Xuân Ba – Kỳ 1

Cập nhật ngày: 16 Th2 2026 22:04

Chẳng dám đổ riệt cho cả một thế hệ, nhưng hình như cái lứa chúng tôi đã không được giáo dục được trang bị những kiến thức làm bố? Nhất là làm ông? Ám ảnh bởi một thời đói kém tất tả thiếu thốn nên sớm có ý thức cùng quyết tâm rằng không thể để con mình cháu mình thiệt thòi như mình được?

Nhà văn, nhà báo Xuân Ba, tên thật là Trịnh Huyên

Tiếc?

Cứ tiếc vì bỏ mất cái thói quen ghi nhật ký thuở đã lẩu lâu. Nghĩ như này, nhân sinh bách nghệ. Trăm người thì trăm nghề, trăm cách kiếm sống khác nhau, nhưng chả cứ nghề viết lách chữ nghĩa. Mà hình như từ bé ai cũng có khiếu, có khả năng ghi nhật ký cả. Nhưng có nhiều nguyên cớ đã bỏ mất thói quen ấy.

Có và giữ được những cuốn biên việc, biên chuyện, biên lòng ( tâm sự) có thì quý. Và chả có cũng không sao. Nhưng tôi dám chắc, bất chợt ngó lại và bắt gặp những vụng dại non nớt này khác một thuở, một thời của mình, ai ai cũng bất chợt nở nụ cười thông cảm!

Và nữa, những sang chấn lớn nhỏ, kể cả “khủng hoảng” này khác ở tuổi cao niên, tôi cam đoan khi bắt gặp lại miền quá vãng ấy nhiều trường hợp có thể “ chữa lành”!

Như đã nói, tôi chả có cuốn nhật ký nho nhỏ nào để mà ngó, ngoái lại cả. Mà thảng hoặc một quá vãng thương mến chỉ được xuất hiện được hồi tưởng qua những cuộc hồi cố hiếm hoi với bạn bè, người thân.

Chừng như tạm ý thức được cái sự lợi lạc ấy, nên hồi con gái 10 tuổi, tôi đã mua mấy cuốn vở đẹp bắt mắt dặn rằng con nên ghi vào cuốn sổ này bất kỳ những việc những chuyện xảy ra trong ngày. Hoặc vài ngày thì kê biên lại.

Đâu như được vài tháng thì con gái tôi bỏ ngang không tiếp tục ciệc ghi ghi chép chép ấy. ( giá như ở cái tuổi sắp ngoại tuần của nó có thứ để ngó để ngoái chút nhỉ?)

Rồi con gái nó, cháu ngoại, năm lên 10 tôi cũng lặp lại việc cũ ấy với mẹ nó. Nhưng mọi sự lại cũng không thành!

Chẳng dám đổ riệt cho cả một thế hệ, nhưng hình như cái lứa chúng tôi đã không được giáo dục được trang bị những kiến thức làm bố? Nhất là làm ông? Ám ảnh bởi một thời đói kém tất tả thiếu thốn nên sớm có ý thức cùng quyết tâm rằng không thể để con mình cháu mình thiệt thòi như mình được?

Nỗi mừng biết lấy chi cân ( Kiều) khi được chứng kiến con cháu mình, ở vào cái tuổi mười mười hai với sự gắng gỏi lẫn khôn khéo cuả cha mẹ, về vật chất,  chúng chưa phải nhịn đói nhịn thèm hoặc rơi vào cái hoàn cảnh trớ trêu như tuổi thơ của mình!

Nhưng lại chợt giật mình ( khi có thời gian chơi với cháu may không phải trông cháu) quan sát, hỏi han chuyện trò với chúng  hình như ở vào cái thời mười, mười hai ấy mình có một đời sống tuổi thơ, hình như hơi khang khác?

Có nên tiếc cho những đứa cháu mình đã bỏ qua đã không có hoặc chẳng bao giờ có một quá vãng như mình không nhỉ? Chợt lần ấy vuột, ngỏ ra với bạn bè cùng trang lứa rằng “ bao giờ cho đến… ngày xưa” họ cười “ ông già và lẩm cẩm thật rồi! Chẳng nhẽ ông lại bắt chúng phải “ thừa hưởng” cái quá vãng nhọc nhằn ấy?”

 

Chuyện hang Kênh Sơn

 

… Tầm chặp tối. Những chiếc xe vận tải quân sự cỡ lớn máy gừ gừ chậm chạp bò vào những con đường dẫn đến hang Kênh Sơn. Những con đường rải đá và đất nện đã được bí mật  san đắp từ trước. Những tốp lính vóc dáng to khỏe khi ở trần khi quân phục từ trên xe ào xuống. Nhoáng cái, những thùng đạn nặng chịch được khuân xuống lặng lẽ chất lên những con thuyền nan thuyền gỗ. Cường độ lao động nặng và đơn điệu như thế nhưng tịnh không có chuyện ồn ào huyên náo. Những con thuyền nặng ắp hòm xiểng từ từ lặng lẽ lướt trên cánh đồng chiêm, thực ra là khúc sông sâu dẫn vào hang động Kênh Sơn.

Hang Kênh Sơn ( giờ gọi là hang Kênh)  đó có bốn ngách hang. Ngó bên ngoài cửa rộng chỉ đủ cho ba người chui vào. Nhưng qua cửa hang hẹp ấy òa mở ra bốn vòm hang khổng lồ. Bốn vòm hang ăm ắp xếp lớp thứ tự những thùng đạn vuông vức hoặc thuôn màu sơn xám hoặc xanh. Thùng thì in thứ chữ tượng hình, thùng để trơn. Đủ các thứ, các loại đạn. Nhỏ như 12 ly 7 ( 12,7cm) đến các loại trung, cỡ đại 37 ly, 14 ly5, 57 ly, 100, 105 ly.  Đạn pháo phòng không, pháo mặt đất… có tất. Tất bật, nhưng nhịp nhàng trật tự. Thủ kho Võ Bá Cường cùng bốn người lính coi kho vũ khí Kênh Sơn với động thái mau lẹ chuẩn xác. Họ nhanh chóng vào sổ số lượng, chủng loại đạn mới nhập kho. Có chữ ký của bên giao lẫn bên nhận.

Tầm quá nửa đêm về sáng, việc giao nhận mới hoàn tất. Khu vực dẫn vào kho vũ khí hang Kênh trên bến, trên bộ và  khúc sông suối dẫn vào hang thoắt quạnh vắng như thể đêm qua không hề diễn ra cuộc vận chuyển vũ khí đạn dược!

Tầm nửa tháng hoặc trên tháng. Hoặc lâu hơn vài tháng. Có khi tới cả năm. Những hòm đạn các cỡ ấy từ hang Kênh mới lại xuất kho. Chúng lặng lẽ ra đi cũng như lúc đến.  Bộ đội công binh nhanh chóng chất lên những chiếc xe Giải Phóng, Hồng Hà hoặc Zil 3 cầu xịch đỗ ở mé sông có đường thủy ăn thông vào hang Kênh. Những chuyến xe ấy lặng lẽ xuôi về phía chiến trường phía Nam.

Công việc của 5 anh lính coi kho Kênh cũng ít bận bịu trừ những lúc nhập xuất kho. Mối bận tâm của họ là phải lùng sục các ngách hang phòng lũ mối nào đó phát sinh. Có thuốc diệt mối nước bạn viện trợ phải xịt thường xuyên. Mối nào gặm được đạn? Nhưng thứ thùng gỗ thông chứa đạn là thứ mồi ngon của chúng.

Cuộc sống có phần đơn điệu của những người lính coi giữ kho Kênh cứ bình lặng trôi. Nói thanh bình cũng chả phải. Không gian u tịch cũng bỗng chốc bị xé toạc cùng nền hang Kênh rung lên bần bật bởi dư chấn của những trận bom Mỹ đánh cầu Đò Lèn và các mục tiêu phía Đường 1A cách hang Kênh chục cây số đường chim bay.

Đợt mưa hồi ấy kéo triền miên. Ngoài trời thì ào ạt nhưng bên trong hang khô ráo yên tĩnh chỉ tội không khí ẩm sì. Đang say giấc về sáng, chợt Cường bừng tỉnh khi  nghe âm thanh loạt soạt mỗi lúc một lớn. Cường mở mắt. Không hoảng nhưng ngạc nhiên thấy một đàn khỉ hơn chục con lớn nhỏ đang kéo nhau lết nhích vào một ngách hang. Lạ, cửa hang khít rịt như thế mà sao chúng vào được? Chúng kéo nhau vào đây làm gì? Từ hồi về coi kho vũ khí, Cường và anh em đã biết được khu vực hang động này là nơi trú ngụ sinh sống của giống khỉ. Đôi lúc thấy chúng nhảy nhót trên các rặng núi đá. Rồi chúng táo tợn mò đến khu vực gần hang. Nhưng không gây phiền toái gì…

Mãi sau này anh em mới tìm thấy một ngách hang nhỏ ngoằn ngoèo ăn thông ra ngoài mà lâu nay không để ý. Chỉ có giống khỉ tinh ranh mới phát hiện ra cái ngách ấy.

Tìm hiểu thêm, hóa ra không phải lũ khỉ trú mưa! Từ khi có đợt oanh tạc (ai cũng mong cho chắc là hú họa chứ không phải nhằm vào kho Kênh?) của máy bay Mỹ vào Xí nghiệp vôi đá Kiện gần đó, lũ khỉ đâm hoảng lọan vì bao đời xứ núi đá vôi hang động bình lặng là vậy nay thoắt nhức óc đinh tai vì các loại bom dội xuống lèn đá! Chúng dạt rồi chúi mãi vào các ngách hang. Lại thêm cái nạn tầm súng thể thao TOZ8 của một bọn thợ săn lâu nay truy lùng.

Chẳng phải đợi lâu. Vòm hang rộng thênh của mấy anh lính coi kho Kênh trưa ấy có khách. Khách không mời mà đến. Hai gã.  Mặt mũi bặm trợn. Lại có cái dáng hao hao lanh lẹ như… khỉ. Họ bảo thấy đàn khỉ xuất hiện ở cái hang này. Và xin phép được hạ thủ.

Tranh của họa sĩ Hoàng A Sáng

Ngồi với hai gã thợ săn, Cường tò mò hỏi chuyện …

Họ đang hăm hở thốt ra chuyện… nấu cao khỉ! Thứ này gọi là cao Ban Long. Khỉ giết thịt. Đem ninh nguyên cả con. Gọi là nấu tồn tính. Ninh sôi sùng sục năm ngày năm đêm với vài vị thuốc Bắc. Sau cô đặc thái thành từng miếng từng khẩu như bánh đúc. Bán rất chạy. Rất tốt cho sức khỏe!

Thủ kho Cường nổi cơn cáu tiết. Anh đuổi thẳng cổ lũ săn khỉ. Nhưng một nỗi lo, nỗi  day dứt khác ập đến. Như vậy an ninh của kho vũ khí Kênh đang bị đe dọa? Mấy anh em lại phải mất công, hết họp với xã đội của xã bên cạnh lại phối hợp với dân quân du kích tuần tra canh gác không cho người lạ vào khu vực kho vũ khí săn bắn.

Đám khách không mời mà đến là bầy khỉ không bỏ đi mà trú hẳn ở một ngách hang bỏ không bên cạnh. Cậu Thành một lần băn khoăn ngỏ với thủ kho Cường rằng anh em mình là lính! Cũng ám cái mùi súng đạn đấy chứ? Nhưng tại sao lũ khỉ không ngại mà lại kéo nhau đến ở nhờ? Chúng biết phân biệt kẻ gian người ngay chăng?

Nhưng niềm vui của thủ kho Thành không được lâu. Một chiều, Thành kêu toáng lên trước nồi cơm nguội lăn lóc vung vãi. Thủ phạm không ai khác là bọn khỉ! Hôm sau đậy điệm cẩn thận. Lại chèn gạch lên vung  một nồi cá kho cũng bị khỉ sục quay lơ.

“ Không ổn rồi anh Cường ạ. Phải đuổi chúng đi thôi!” Nhưng đuổi bằng cách nào. Mà chúng đói khát gì. Ngoài lúc đi kiếm ăn, ngô gạo anh em vãi đầy.

“ Khỉ sợ nhất là mắm tôm” Một thủ kho khác hiến kế…

Hai vếch mắm tôm được dây ra mấy bát.  Không ổn! Hôm sau lại vẫn trò lục lọi, nghịch phá ấy. Anh em đều khó chịu bởi cả không gian vòm hang sực nức mùi mắm tôm. Nhưng lũ khỉ vẫn giương mắt ngó lại như thách thức!

Thủ kho Thành đã nghĩ ra cách. Một bữa đi làm về, Cường bỗng thấy một chú khỉ đực bị trói ghì kiểu trật cánh khuỷu vào một khúc cây to. Chú ta đang nằm quay lơ bên nồi cơm chốc chốc lại gào lên thảm thiết.

Bầy khỉ lúc đầu thì hoảng hốt. Sau cứ dạn dĩ giương mắt nhìn cảnh ấy. Ngày thứ hai, con khỉ đầu đàn mon men đến bên  Thành ý chừng làm lành, thỏa thuận. Nhưng Thành kiên quyết đuổi ra.

Thành tưởng thủ phạm bị trói sẽ đói. Nhưng đến đêm nó lại được lũ bạn tiếp tế ngô.

Suốt một tuần như thế. Cái cách tra tấn răn đe của Thành đã mang lại hiệu quả. Lạ lùng, sau khi cởi trói cho thủ phạm, trật tự đã được vãn hồi. Cả bầy khỉ không lặp lại trò quấy phá lục lọi nữa. Anh Cường cười bảo Thành “ Chả trách ở Rạp xiếc người ta dạy được cả khỉ…”

Không có tiết mục xiếc nào ở khu hang kho vũ khí Kênh cả. Nhưng bầy khỉ, lúc này đã gần ba chục con quây quần xôm tụ ở ngách hang ngay cạnh. Những trò tinh nghịch đôi lúc quậy phá  của chúng dường như mang lại chút niềm vui cho những người lính đang phải làm nhiệm vụ trong một môi trường hoàn cảnh đặc biệt?

Có! Đã có một trò “xiếc” duy nhất mà mấy anh em kho quân khí được chứng kiến. Một mùa ngô nọ, chẳng hay trong đám khỉ ranh ma, đứa nào đã nghĩ ra, đã đầu têu?  Cả đám khỉ, nhớn,  bé, chúng nhất loạt mỗi con dùng thứ dây đỉnh ( một loại dây leo rất dai và bền) quấn quanh bụng. Chúng mò đến những đám ngô dân làng trồng khu vực ven chân núi đá. Con thì vài bắp, con thì một bắp lận, giắt vào lưng. Vài chuyến thoăn thoắt đi về như thế đã có một đống ngô dự trữ!

Tất nhiên cái trò ăn cắp ngô của dân đã bị dân làng phát hiện cùng kêu ca. Cậu Thành lại phải nghĩ ra cách để trừng phạt!

Một đêm cả hang thoắt bị dựng dậy bởi âm thanh rú rít của bày khỉ! Những luồng đèn pin bật sáng. Cường hoảng hốt khi thấy một khúc gì đó đen chùi chũi bằng bắp chân lừ lừ tiến tới đám khỉ! Trời ơi, một con trăn!  Nó từ đâu xuất hiện vậy? Liệu đã nuốt thằng khỉ nào chưa? Nhưng quan sát hồi lâu, chưa thấy triệu chứng gì của việc trăn hạ sát khỉ?  Mà con trăn này trông lử khử? Hình như nó bị bệnh, bị ốm? Hay bị thương?

Tinh mơ hôm sau bày khỉ đã nối nhau ra núi. Không gian vòm hang trở nên yên tĩnh. Nhưng cả hang lại huyên náo bởi một sự kiện. Bên con trăn đang khoang tròn chỗ hốc đá dưới vòm hang trú ngụ của lũ khỉ, hai con trăn con nhỏ xíu đang ngọ nguậy! Thì ra con trăn hồi tối đau đẻ đã tìm đường vào đây!

Cả bọn ngây người vì nghĩ, vì lạ! Phàm cái giống trăn, cũng như nhiều loại khác, khi đẻ trứng hay con thì phải tìm nơi kín đáo vắng vẻ chứ sao lại mò đúng vào nơi giống người cùng khỉ trú ngụ này? Cậu Thành, chất giọng sợ sệt đại loại rằng, cái hang vũ khí này có vẻ như đất dữ có ma quỷ gì đấy( !?) Nhưng thủ kho Cường cười xòa, “mày nói thế nào ấy chứ đất này có lành thì khỉ mới về, đến trăn cũng tìm đến nữa là”

Than thở vậy nhưng hôm sau, Thành cũng lùng kiếm ở đâu xách về hai con ếch nhỏ và mấy con chuột. Thành sợ trăn mẹ đói.

Trăn mẹ không đói. Nhưng quan sát mãi, nhưng cả bọn không chứng kiến được cái cảnh trăn mẹ cho con bú như thế nào? Trăn con không bú mẹ thì sao chúng lớn được nhỉ?

Một sự lạ đã xảy ra. Đẻ con xong dễ đến non tháng, trăn mẹ đã bò đi kiếm ăn. Nhưng lạ lùng, chẳng biết đi những đâu nhưng cách mấy ngày nó lại tìm đường về với lũ con. Mà lạ nữa, trăn mẹ không đả động nhìn ngó gì đến lũ khỉ. Thế mà người ta bảo trăn nuốt được cả khỉ?

Mà chàng thủ kho Võ Bá Cường dạo này cũng ít nhòm ngó đến mẹ con trăn cùng lũ khỉ. Mọi việc Thành phải cáng đáng tất. Cũng có lý do của nó. Cường ta đang bị một cô gái dân quân làng Đồng Hang hớp… hồn!

Lâu nay, có nhiều hoạt động giữa Trung đội dân quân làng Đồng Hang, đơn vị kết nghĩa với Kho quân khí. Lần thì tới hang làm nhiệm vụ vận tải, lần thì phối hợp diễn tập chống tập kích đường không lùng diệt thám báo. Đám dân quân đã quá quen với bày khỉ và mẹ con nhà trăn ở kho quân khí này.

Thời điểm chuẩn bị ký Hiệp định Ba Lê năm 1973, tại khoảng hang kho quân khí đã nhộn nhịp tưng bừng một đám cưới.  Tươi, cô gái dân quân làng Đồng Hang đã đẹp duyên cùng Võ Bá Cường thủ kho hang quân khí Kênh Sơn.

Rồi đất nước yên hàn. Sau 1975, bao sự kiện hối hả. Võ Bá Cường ra quân phục viên đưa người vợ cùng cậu con trai về quê Tiên Lãng Hải Phòng sinh sống.

Hang quân khí Kênh Sơn vẫn ăm ắp đạn dược đến và đi. Kho mấy lần được bàn giao cho các đơn vị mới, cũ. Hình như người ta đã quên bẵng bày khỉ và mẹ con trăn một thưở một thời?

***

Tôi về Kênh Sơn thời điểm đã trở thành Khu sinh thái nghỉ dưỡng nổi tiếng. Nhiều dịch vụ như thăm hang động, bơi thuyền rất xôm tụ du khách.

Tại bộ phận Lễ tân khu sinh thái, tôi tình cờ gặp một ông già tóc bạc  nhưng trông còn khá khỏe mạnh. Lọt thỏm vào khu sinh thái Xứ Thanh nhưng ông lại thuần chất giọng miền ngoài “ nờ lờ nẫn nộn”

Những chuyện gần, chuyện xa. Trong thời gian lưu trú nghỉ ngơi ở Kim Sơn, tôi đã ngồi lại với ông vài lần thì mới tạm ngớt câu chuyện của ông mấy chục năm trước một thời trai trẻ từng là thủ kho hang vũ khí Kênh Sơn!

Vâng, ông già ấy là Võ Bá Cường!

… Ông Võ Bá Cường từ Hải Phòng đưa gia đình về quê vợ đã hơn hai năm nay. Người em trai của vợ đang là một yếu nhân của Khu sinh thái. Em vợ ông đang rất cần sự xúm tay của ông anh vợ.  Khu sinh thái Kênh đang mở ra nhiều loại hình du lịch để hút khách. Trong đó có một hình thức độc đáo là dụ, hướng dẫn bày khỉ hoang dã ở trên núi đá cùng vui chơi với du khách.

Còn gì thú vị hơn khi bày khỉ hoang đã dạn người thả bước cùng du khách. Và mạnh dạn mon men bên bàn ăn của khách du lịch. Bây giờ đội hình khỉ dạn người được huấn luyện phục vụ du lịch mới được hơn chục con.

Ông Võ Bá Cường cũng không giấu những khó khăn là bày khỉ hoang bây giờ ở  Kênh Sơn ( có thể  là hậu duệ của đàn khỉ thời ông còn làm ở kho Quân khí?) do nạn nổ mìn khai thác đá bừa bãi mấy chục năm nay và việc săn bắt khỉ nấu cao chúng đã mất dần phản xạ dạn người như trước và rất sợ người! Gần 2 năm nay những gắng gỏi của ông Cường và cộng sự đã mang lại những kết quả khả quan.

… Bốn ngách hang Kênh dùng làm kho quân khí vẫn còn kia giờ không còn chức năng cất trữ vũ khí đạn dược nữa.  Nay thông thống mở cửa cho du khách tham quan.

Tôi theo gót ông Cường thư thả lần qua những lối những ngách hang quân khí Kênh Sơn một thời thân thiết ấm áp.

Ốc nhồi Đồng Lụt

Có cái tên là Đồng Lụt vì cữ tháng bảy, tháng 8, nước đồng chiêm mênh mông duềnh lên phủ trọn cánh đồng rộng thênh dưới chân núi Mông Cù.

Nước đóng trên đó hàng tháng mới rút. Lũ tôm cá lươn chạch vốn có cái gene trời ban rằng không muốn phơi mình trên đồng đất xa lạ mai kia chết khô nên hơi bị nhanh chân. Chúng hối hả theo mớn nước xuôi để về với sào huyệt Đồng Chiêm  quanh năm nước đóng lưu cữu!

Nhưng cái giống người còn lanh khôn hơn. Lũ trẻ con bọn tôi đã kịp dùng những cái giắc ( dụng cụ đan thô sơ chỉ với nhánh tre) đan ghép thành một thứ  bẫy vô cùng lợi hại. Những chiếc giắc hờ hững ghim ngầm theo những “ nổ” ( lối nước thoát). Cứ để cả đêm như thế. Sáng ra những cái giắc ấy đã chật cứng những giếc, rô, trê, chuối sộp!

Nhưng những hoan hỉ ấy chỉ được vài hôm vì lũ thủy tộc khôn ranh đã kịp thoát về quê kiểng đồng chiêm theo hàng trăm ngả nước xuôi. Thứ giắc lợi hại hình như chỉ lừa được đám cá ngờ nghệch. Chả mấy hôm mà cánh Đồng Lụt rộng rinh đã trơ những bờ ruộng. Rồi mưa tạnh hẳn. Nắng lên. Cánh đồng võng vãnh, săm sắp nước rồi khô khén bắt đầu từ mùa tháng chín âm giở đi…

Thế thứ gì của giống thủy tộc xứ đồng chiêm đang (vô tình lẫn hữu ý?) ở lại với cánh Đồng Lụt? Ốc! Những chú ốc nhồi với cái vỏ ngoài thì ngó hơi bị hoành nhưng thân xác tong teo gày ốm cữ tháng năm tháng sáu khô hạn. Những bước ốc chậm rì may nhờ nước lụt duềnh hộ lên Đồng Lụt. Chả mấy bữa mà chúng đã no nê phủ phê với mớn phù sa cùng phù du ngấu nhuyễn mùa lũ, thứ thức ăn cực kỳ ưa thích của loài ốc. Vậy nên chỉ mấy tháng nước đóng trên Đồng Lụt mà đội quân ốc nhồi đã nhanh chóng tăng trọng.

Chúng lười biếng nhắm mắt triềng sâu xuống mặt ruộng lặng lẽ tận hưởng những bữa đại tiệc trời dâng tận miệng ốc mà chả phải mất công kiếm tìm gì. Những thân ốc hình hài ít tháng trước còn tụt sâu vào vỏ vì gày còm nay tày tặn dần lên. Triệu chứng chúng đang béo.

Mê mải tận hưởng thứ thức ăn giời cho cùng muôn vạn chỗ nằm ấm êm, cái giống ốc hình như không có hệ thống thần kinh để đọc để lường trước được tai họa. Rằng nước đang rút thì cũng phải mau mau mà nhoài mà lê về xứ Đồng Chiêm như những giống loài cá khác?  Đủng đỉnh ăn, mê mệt ngủ. Thân xác đâm ục ịch nặng nề. Và từng tế bào ốc đang khoan thai hoan ca điệp khúc dịch ra tiếng người rằng, nước nổi thì mình lại nổi! Rằng mai kia Đồng Lụt khô cạn mình chỉ tạm náu xuống bùn lẫn vào đất làm một giấc miên man từ ngủ đông vắt sang ngủ xuân. Rồi chả mấy chốc đến hè.  Lại những cơn mưa ào ạt mát lành. Nước Đồng Chiêm rồi lại duềnh lên. Lại những ngày phủ phê, no đủ. Mà khi ấy có bò có lê về quê Đồng Chiêm làm một cuộc hồi hương theo lũ theo nước rút  cũng chả muộn nào! Mà này, cần chi phải vội vã với nhiêu khê làm vậy? Ta thử làm hẳn một cuộc phiêu du là định cư hẳn ở cái xứ Đồng Lụt này vài năm lại chả thú ư?

Đang mê mệt trong giấc ngủ đông, ốc ta bỗng nảy dựng lên bởi một cú sốc! Cái gì thế này? Chưa kịp định thần thì đã chói chang ánh ngày nhức mắt…

… Anh cu Huyên mấy năm nay, cữ đi cày Đồng Lụt nào cũng dắt trâu bám theo mẹ. Trâu thì thả cho nó mê mải với mấy bờ cỏ quanh đây. Cu Huyên đang bận đương mải việc khác. Ấy là Cu đương dán mắt vào vệt đất mà lưỡi cày của mẹ vừa xới lên. Ánh mắt sắc lẻm của cu cậu ít khi nhầm! Ấy là cục đất và những con ốc. Giống ốc mượn đất phủ kín thoạt trông có khác chi cục đất? Nhưng dẫu có ngụy trang kỹ cách mấy thì nó cũng phát lộ chút ít cái hình hài ốc!  Bám theo một buổi cày của mẹ mà cu Huyên đã kiếm được lưng một giỏ ốc tướng!

Ngày mùa đông ngắn nhưng cu Huyên có cảm tưởng sao cứ lê thê mãi ra? Ấy là cái bụng đương réo mà chưa thấy triệu chứng buổi cày của mẹ ngưng lại.

Thửa ruộng bên kia, chỗ gần cây Cáo Một bỗng bừng lên một làn khói. Chỗ ấy tên Cây Cáo Một vì còn lưu lại một cây gạo ( vùng này gọi là cây cáo. Có tên cáo phải vì tháng 3 mùa hoa, cái giống gạo- cáo bung hoa đỏ ối một vùng tự đằng xa người ta đã nhìn đã ngó thấy. Sau này đi học, giảng đến bài Đại Cáo Bình Ngô thày giáo nói rằng cái từ “ cáo” trong bài là thứ “ cáo’’ ấy đấy. Lại còn có nghĩa cáo thị, thông cáo vậy) Ngày trước bên cây gạo là cái quán của bác Giáo Tiến dân tản cư ở Hà Nội dạt về. Nhà bác Giáo cái quán thèo đảnh lụp xụp. Vợ chồng bác Giáo bán độc hai thứ. Cháo trắng ( đôi khi có cháo đậu xanh) và cà muối. Khách ghé quán, ngày trước  là dân tản cư. Sau này là khách bộ hành. Nhưng thưa thớt lắm. Rồi quán đóng. Gia đình bác Giáo lại dạt đi vùng khác.

Đang nói cái vầng khói xanh trắng bốc lên kia. Cũng là chỗ ruộng nhà cu Vĩnh. Cu Vĩnh ở cạnh nhà Huyên. Huyên gọi mẹ Vĩnh bằng O. Bố cu Vĩnh, cán bộ thoát ly bỏ hai mẹ con ở quê lấy vợ mới tận Gia Lâm, Hà Nội. Hai mẹ con cu Vĩnh đành quấn túm với nhau chả mong gì cái sự nhìn ngó của người chồng bội bạc. Cu Vĩnh chăm việc lắm. Mới hơn chín, mười tuổi mà đã thạo việc cày bừa cấy hái…

Xòe bàn tay lạnh cóng bên cái bếp gây bằng thứ củi ổi cháy rất đượm của cu Vĩnh một lúc, anh cu Huyên chợt bừng lên ý nghĩ. Chẳng đợi hỏi cu Vĩnh đang cong đít với những nhát cuốc chỗ góc ruộng, Huyên nhảo về chỗ ruộng nhà. Loáng cái đã thủ theo một mớ đất cục, xin lỗi quên, những con ốc Đồng Lụt mới lượm được hồi nãy uỵch vào cái lòng chiếc nón trĩu cả tay. Thứ trĩu ấy chẳng phải đất mà ốc đấy! Thứ ốc ngủ đông béo mầm…

Huyên háo hức vớ thêm mớ củi ổi chắc đanh tấp thêm vào đống lửa của cu Vĩnh. Đợi những cành oằn lên vì lửa, Huyên thong thả bầy lên đó, cứ một lượt ốc một lượt củi. Cu Vĩnh đã đồng lõa bằng loạt xoạt thêm mớ củi nữa. Và cái gì thế này, hắn thò ra cái gói lá dong xanh xanh. Trời đất ơi, muối! Gói muối rang mẹ hắn, bà O gói cơm mà khoai khô nhiều hơn cơm để hắn ăn trưa làm lân sang chiều một buổi cuốc cho hết chỗ ruộng.

Bất đồ từ đống lửa củi ổi, một thứ âm thanh như rú như rít phát ra!  Người lạ chắc lần đầu nghe được phải phát hoảng. Nhưng xin yên tâm, ốc nó kêu đấy! Cái giống này lạ lắm. Luộc thì không sao. Nhưng cứ đem nướng, đem bỏ vào bếp, cái giống ốc nhồi Đồng Lụt này lại bất thần bật lên thứ âm thanh đến lạ, nghe rất chi là ai oán, thảm thiết.  Hàng chục con ốc cùng lên giàn thiêu như thế cùng thốt lên thứ âm thanh như thế nghe không ngại sao được? Nhưng chỉ một chốc thôi! Giữa đồng không mông quạnh không sao nhưng mỗi khi ở nhà giữa cơn đói, những thằng phàm ăn háu ăn lén nướng trộm con ốc nó kêu tướng lên tố cáo cái thói ăn vụng là ngại lắm!

Vầng khói xanh trắng bốc lên nãy giờ của cu Vĩnh không hề hấn gì. Nhưng cái mùi ốc nướng nó thơm một cách quỷ quái đã tố giác cuộc hỏa thiêu ốc ( mà mãi sau này người ta gọi là nướng trui) Nhiều người làm đồng biết. Mẹ cu Huyên lại càng biết. Nhưng người chả nói năng càm ràm gì như khi ở nhà.

Con ốc nướng Đồng Lụt có mỡ không ấy ư? Có chứ! Thế mỡ ốc có giống mỡ lợn không? Chả biết! Nhưng có lẽ nó đã hóa thân thành cái tổ hợp vừa ngậy vừa bùi, ngọt giòn sần sật bện quện với vị muối làm buổi trưa đói lạnh của tuổi thơ ở xứ Thanh đói nghèo đâm lộng lẫy hoành tráng!

… Huyên với cu Vĩnh bện quện đâu chỉ gần chục lần nướng ốc như thế. Tận đến khi cu Vĩnh đi bộ đội cái trò ấy mới chấm dứt. Cuối năm 1972, cu Vĩnh vào chiến trường Quảng Trị và 4 tháng sau đã hy sinh.

Từ hồi cu Vĩnh hy sinh, Huyên không dám can dự vào một trận ốc nướng trui nào nữa. Những bữa ăn ê hề sau này hình như cũng có món ốc nướng. Huyên cũng có ăn. Nhưng cái âm thanh của giống ốc nhồi trên giàn hỏa thiêu ngày xa lạnh buồn ấy cứ ám vào Huyên mãi…

***

Những con ốc nhồi Đồng Lụt thuở ấy không bị đưa lên giàn hỏa thiêu đã có một số phận khác.

Thày ( quê Huyên gọi bố bằng thày) Huyên bỏ chúng vào một cái chậu to đổ ngập nước. Cho rã, nhữa hết bùn đất bám. Rồi rửa thật sach. Rồi người thả chúng vào vại nước vo gạo ngâm đủ ba đêm. Quảng thời gian ấy, cái thứ ốc Đồng Lụt béo mầm nặng chịch đã uống thỏa thuê nước vo gạo. Cứ ngó cái thạp nước gạo trắng đục trở nên trong vắt sau ba ngày đêm ốc ngụp lặn thì đủ biết!

Ba đợt cho uống nước vo gạo như thế, Thày bỏ ốc vào cái rổ sâu lòng đưa lên giàn. Giàn đây không phải giàn lửa như  Huyên với cu Vĩnh từng hành quyết mà là giàn bếp nhà. Thày nói cho ốc xông bồ hóng.

Bao năm tháng lúc vùn vụt khi hững hờ lờ lững trôi. Đã cạn kiệt tuổi thơ tự hồi nào mà Huyên  vẫn chưa kịp tìm hiểu cho thật cặn kẽ cái lạ của giống ốc nhồi Đồng Lụt quê nhà? Rằng tại sao ở trên giàn bếp khói mù mịt như thế cái giống này vẫn sống được? Và mươi ngày được đưa xuống vẫn uống no được nước gạo? Mà  cái thứ bồ hóng, nó độc chứ béo bổ gì? Vậy mà những con ốc Đồng Lụt miệng vẫn đầy vẫn khít rịt chứ không gày xác co tịt vào trong.

Gần một tháng “ ngự” trên giàn bếp. Tầm 23 Tết thì chúng được hạ thổ. Lại được ngâm tẩm uống nước gạo chán chê.

Thày không luộc cũng chả nướng. Mà làm sống. Con ốc sạch tinh nhưng chỉ lấy cái miệng cái thân ốc. Bỏ phần đít.

Những miệng, thân ốc nẫn nẫn được xào với thịt thủ, tai lợn. Gia gảm thêm mộc nhĩ hạt tiêu bắc… Thày đang gói giò ốc. Giò được gói bằng lá chuối tươi hơ lửa cho mềm.

Khi luộc giò, một que hương được thắp lên. Tàn hương thì vớt giò ra. Để ráo nước rồi đặt giữa hai cái thớt to gọi là ép giò một đêm rồi đem treo lên.

Thời gian nhoáng nhoàng những biến cải này khác. Nhưng tâm trí Huyên vẫn mồn một khoanh giò ốc mịn màng chắc nịch. Mặt cắt có những họa tiết óng ánh như xà cừ bởi chỉ thịt ốc nhồi  Đồng Lụt riêng có đặt trên chiếc đĩa sứ cổ.

Huyên nhớ lần ấy đã đặt cái đĩa sứ cổ chĩnh chiện khoanh giò ốc Đồng Lụt dưới di ảnh trên bàn thờ cu Vĩnh vào dịp Tết.

(Còn tiếp)

XUÂN BA

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Gọi 0966739602 Fanpage ninhxuyen3 Zalo 0966739602 Zalo Email bgyendung@yahoo.com