Hiên bước thấp bước cao lần theo cột mốc di động là đôi bắp chân tròn trĩnh trắng trẻo của noọng Niên đu đưa phía trước. Hiên mau chóng bắt chước cái cách của em là không cần phải oàm oạp dầm mình xuống suối như thế mà chỉ khẽ lùa bàn tay ven những rặng đá nửa chìm nửa nổi. Hoặc rờ nhẹ quanh những hòn đá đầu ông sư, nơi có những làn rêu đá mướt xanh là thể nào cũng tóm được những chú cá be bé…. Lạ nữa, em khá sát cá. Bàn tay em sục, lùa sao đó mà thi thoảng những con cá suối thân dẹt hoặc tròn bằng ngón tay cái giẫy giụa trong lòng tay trắng trẻo của em nom rất ngộ!

Quẹ
Những năm đầu bảy mươi ( 1970) mấy chục sinh viên của lớp Văn Trường Đại học Tổng hợp có chuyến đi thực tế Tây Bắc. Bao nhiêu là ấn tượng với thày trò chặng tàu hỏa Hà Nội Lào Cai. Rồi từ Lào Cai, hai chiếc xe ca hiệu Ba Đình gập gềnh mấy ngày lộ trình Sa Pa – Phong Thổ – Bình Lư – Pa Tần – Mường Lay – Điện Biên. Đến Huyện lỵ Điện Biên, thày trò tỏa về mấy bản Sa Mứn, Noong Het… của huyện Điện Biên Lai Châu làm cái việc sưu tầm văn hóa dân gian của dân tộc Thái.
Nhưng ấn tượng không chỉ mấy ngày đi đường…
Hiên với Đình được bố trí về ở nhà “Ải” ( bố) Chung ở bản Sa Mứn. Chỉ nhớ được tên bố. Còn “êm” ( mẹ) thì quên mất rồi. “Ải Êm” Chung có 3 người con. Cô con gái lớn độ 16 tuổi dong dỏng cao tên là Niên. Hình như noọng ( cô/ em) Niên đang cái độ xuân sắc nhất của tuổi dậy thì.
Hai thằng cũng mau chóng làm quen với nhiều thứ bỡ ngỡ lạ lẫm. Như việc góp tem gạo, tiền để ăn chung với gia đình ( bộ phận đời sống của chuyến đi lo. Nhưng gần 2 tháng trời dân Thái chỉ lấy tem gạo và không lấy tiền. Dù đời sống dân Thái trên này cũng chả dư dật gì) So với bữa cơm sinh viên, bữa ăn ở nhà Ải Chung là quá tươm. Quá hấp dẫn những típ xôi nếp nương, những khúc sắn đồ ( hông) nuột nà. Bản tánh hai anh sinh viên nông dân bập rất mau việc dân vận. Mạnh bạo tham gia vài việc vặt của gia đình nên được bố mẹ Chung rất quý.
Tuần đầu tiên ở nhà Ải Êm Chung, trong đoàn thực tập, Hiên với Chiến đã sớm gặp may. Buổi ấy, họ được theo noọng Niên lên khúc suối gần nhà đi hái rêu đá.
Noọng Niên ít nói. Nhưng ánh mắt và nụ cười của em dường như đã nói thay hết rồi. 16 tuổi mà em mới học lớp 5. Trên này vậy là thường. Niên là lao động chính. Việc nương việc suối em đều thành thạo cáng đáng thay bố mẹ.
Hiên bước thấp bước cao lần theo cột mốc di động là đôi bắp chân tròn trĩnh trắng trẻo của noọng Niên đu đưa phía trước. Hiên mau chóng bắt chước cái cách của em là không cần phải oàm oạp dầm mình xuống suối như thế mà chỉ khẽ lùa bàn tay ven những rặng đá nửa chìm nửa nổi. Hoặc rờ nhẹ quanh những hòn đá đầu ông sư, nơi có những làn rêu đá mướt xanh là thể nào cũng tóm được những chú cá be bé…. Lạ nữa, em khá sát cá. Bàn tay em sục, lùa sao đó mà thi thoảng những con cá suối thân dẹt hoặc tròn bằng ngón tay cái giẫy giụa trong lòng tay trắng trẻo của em nom rất ngộ!
Mới chỉ chưa đầy tiếng đồng hồ mà cái địu mây của Niên đã trĩu nặng thứ rêu đá rờn xanh. Lại thêm non hai chục con cá suối nần nẫn.
Sự chung tay một cách hồn nhiên và thái độ thân mật của hai chàng sinh viên dường như khiến Niên cởi mở hơn.
Có một lúc, cả ba bệt người trên những đầu đá ông sư tròn trĩnh ven suối. Chuyện linh tinh. Thốt nhiên noọng Niên ngước cặp mắt trong veo lên “ Các anh có biết chuyện quẹ không?”
Hiên hỏi dồn “ Quẹ là cái gì vậy noọng?”
Hấp dẫn cuốn hút hai thằng, một phần cũng do nội dung câu chuyện. Nhưng có lẽ là chất giọng ngập ngừng với âm sắc tiếng Kinh chưa sõi lắm của noọng Niên.
… Xửa xưa có một đôi trai gái yêu nhau. Nhưng lão chúa Đất độc ác đã ngăn trở không cho họ lấy nhau. Đôi trai gái bèn chạy trốn đến đầu nguồn con suối trên đỉnh núi cao. Những ngày gian nan lang thang, cô gái khóc nhiều lắm. Nước mắt nàng tuôn chảy thành một dòng thác dội xuống lòng suối. Chàng trai thề sẽ không bỏ nàng. Và họ đã thề cùng nhau chết bằng cách gieo mình xuống ngọn thác kia.
Thân thể của chàng trai hóa thành những rặng đá. Còn mái tóc dài của cô gái biến thành những sợi rêu quấn quýt quanh vệt đá ấy… Người Thái gọi thứ rêu ấy là Quẹ!
Noọng Niên nâng một chùm rêu lên “ Dưới xuôi có thứ quẹ này không?” Niên lắc và ngó lâu thêm cặp mắt to tròn như có ngấn nước ấy…
Noọng Niên lấy “quẹ” về làm chi nhỉ? Cúng chăng? Niên hỏi nhỏ Đình. Cậu ta cười “ có thể lắm…”
Về đến nhà. Gùi quẹ đã được Niên tãi ra chiếc nong. Em lấy chiếc chày gỗ đập đập lên mớ rêu nói là cho nó mềm và sạch bùn đất… Rồi em đem rửa thêm mấy lần nữa.
Niên chạy ù đi. Khoảng suối hẹp thắt gần nhà, Ải Chung có đặt một chiếc vó. Niên khẽ nhấc lên. Khoảng chục chú cá suối cùng loại như hồi nãy Niên chụp được đang giãy giụa.
Cô lại ù ra sau nhà vác về mấy cái bẹ chuối tươi đã phơi heo héo.
Niên rắc chút muối và hạt mắc khén ( một loại hạt tiêu rừng) và một nắm ớt chỉ thiên nửa xanh nửa chín lên mớ rêu.
Bàn tay thoăn thoắt của Niên bày lên bẹ chuối lớp thì rêu đã ướp gia vị, lớp thì cá. Xong cô kẹp ốp cái bẹ chuối lại.
Ba khoảng bẹ chuối được Niên khéo léo vùi vào làn tro than của cái bếp rừng rực lửa mà mẹ Niên gây từ hồi chiều.
Cái bụng sôi ùng ục cuả hai thằng khiến có cảm giác phải hàng tiếng đồng hồ! Nhưng kỳ thực chỉ non tiếng đồng hồ, món quẹ của Niên đã hoàn tất.
… Ải Chung vẻ trịnh trọng lần giở các làn bẹ chuối đã xém lửa. Một mùi thơm nồng nàn dậy lên trong chiều sậm buông. Những làn rêu còn giữ nguyên sắc xanh nhuốm chút hồng của ớt, của hương mắc khén đậm đà vị cá suối nướng ngấm sang.
Ải Chung vớ chai rượu trắng ép mỗi thằng làm một ly.
(Tối đó Hiên chong đèn dầu ngồi chép lại câu chuyện của noọng Niên. Cùng cả quy trình chế món Quẹ. Không biết hắn viết như nào mà đọc lên nghe cứ như một thứ… nghi lễ. Bữa sơ kết đợt đi thực tế được các thày hướng dẫn biểu dương)
Sau này do công việc lang thang trên các cung đường Tây Bắc, với cương vị một nhà nghiên cứu trẻ, Hiên được may mắn thưởng cung cách chế món sống, nấu miếng chín điệu nghệ, bắt mắt bắt miệng của dân tộc Thái. Trong đó có món quẹ – rêu đá, thứ nướng thứ hấp với cá hoặc với các loại thịt hay nấu canh… đều để lại dư vị khó quên. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất là bữa QUẸ buổi đầu ở nhà noọng Niên ở bản Thái xứ Điện Biên ấy!)
***
Khúc suối dẫn lên ngôi nhà sàn của Ải Chung là cả một sự huyền bí. Hiên băn khoăn nhưng không dám hỏi. Rằng sao không làm một cây cầu bằng gỗ hoặc tre mà cứ phải lội qua như này?
Một bữa đang ngồi trên sàn ghi chép, Đình giật áo Hiên chỉ ra khúc suối. Noọng Niên đi đâu về vai trĩu một địu quả chuối nặng.
Em lanh lẹ vén váy lên thả bước xuống suối.
Nước ngập tới đâu em khéo léo vén đến đấy.
Huyền thoại của sự tò mò chỉ chấm dứt và dừng lại ở trên khoảng đầu gối em một chút đoạn giữa suối. Khoảng váy lại lập tức chùng lại bình thường. Mãi sau này Hiên mới phát hiện các thành viên nhà Ải Chung đều thích cái kiểu lội như thế. Để khi bước lên sàn cho sạch nhà? Hay lý do gì khác? Thế mà cả hai thằng cứ co giò hồn nhiên nhón nhảy thật lực qua mấy bậc đá mé trên khúc suối.
Đoạn suối mé xuôi sâu hơn. Nơi cả nhà thường ra tắm. Kìa noọng Niên đương tắm! Tò mò quá đi chứ? Tò mò chả phải đương cữ tiết tháng 10 âm mà tắm tiếc giữa giời đông lạnh giá thì ngại chết. Nhưng cái “noọng” nhà này chẳng lấy đó làm vì! Có chút giận và tiếc chăng là con suối nước không được leo lẻo văn vắt đã nhạt nhòa đi bao thứ nhạy cảm? Lại nữa, nước tới đâu thì em kéo váy lên tới đó. Đoạn sâu nhất là cặp gấu váy đã khéo léo đậu chấm cái gờ tóc búi mà mai kia em về nhà chồng nó sẽ là tằng cổ ( tóc búi cao).
Cuộc tắm thỏa thích của cô bé chủ nhà tới hồi kết thúc! Mà kỳ diệu làm sao, lúc em trở lên bờ suối thì chiếc váy vẫn còn khô nguyên?
***
Bữa ấy hình như nhà Ải Chung có giỗ nên thịt con gà. Ải nói với với noọng Niên gì đó bằng tiếng Thái.
Hiên hỏi lại thì em cười “ có đi lấy lá vả không?” Cái giống vả thì Hiên đâu có lạ. Quả to hơn quả sung “ lòng vả cũng như lòng sung” mà! Nhưng ở xứ bán sơn địa Xứ Thanh quê Hiên, giống vả ngó còi cọc chứ không xum xuê và lá kém mỡ màng so với xứ Tây Bắc này. Và quê Hiên ít người ăn lá vả.
Hiên theo noong Niên dọc con suối bên nhà một quãng. Ba cây vả um tùm ngả xuống mí nước thành một cụm cây khá ngoạn mục. Noong Niên thoăn thoắt tanh tách tỉa những chiếc lá bánh tẻ. Hiên hỏi sao không ngắt cả đọt non lẫn lá non. Nụ cười trẻ trung sáng lóa khuôn mặt trắng trẻo, em lắc đầu dường như chưa thốt ra điều bí mật nào đó?
Đang quay về nhà, noọng bỗng quày quả trở lại gốc vả. Tanh tách thêm ba quả vả xanh. Hiên vuột miệng thắc mắc hỏi sao không lấy quả chín? Noong chỉ cười. Băn khoăn vì Hiên biết, quả vả người xuôi chỉ ăn lúc chín. Bổ quả chín ra, phát lộ một tầng mật có độ ngọt dịu trong suốt.
Nhưng Hiên đâu biết! Điều bí mật chính là cái bùi, giòn của lá vả đương độ bánh tẻ. Trong bữa cơm có thịt gà hiếm hoi như bữa ấy, Hiên và Đình theo Ải Chung đặt miếng gà luộc nõn nà giữa khoảng lá vả đương ánh lên sắc xanh tía. Lại nhón thêm mấy lát quả vả xanh rồi nhẹ nhàng cuộn lại. Một thỏi xanh hỗn hợp, một công trình vừa miếng được dúi vào bát “chám chéo” ( một hỗn hợp muối trắng ngào với ớt xanh, ớt đỏ kiêm hạt dổi và mắc khén tươi nghiền nhỏ) đưa lên nhai chầm chậm. Một hỗn hợp dịu dàng như đương hoan ca. Thoáng toát mồ hôi và rịn chút nước mắt của cảm giác khoái khẩu.
Có nhiều bữa làm chi có thịt gà hay thịt lợn như này, hai thằng háu đói cũng lần ra suối kiếm lá vả bánh tẻ. Chỉ lá không kèm với chấm chéo cũng đưa cơm vèo vèo. Ăn sống chán thì luộc cũng khá bắt miệng. Chiến thì thầm với tôi rằng bí quyết là thứ cham chéo của nhà noọng. Gốc tre mà chấm với thứ này cũng… ngon!
Chuyến ngược Tây Bắc về Điện Biên sưu tầm văn học dân gian dân tộc Thái lúc hạ sơn và cả đến tận giờ hơn nửa thế kỷ đã qua vẫn vương vất những bâng khuâng? Chưa hẳn là tập ghi chép mỏng cá nhân mỗi cô cậu sinh viên thâu lượm được. Mà là những ấn tượng đầu đời khó phai. Ấn tượng cũng kỷ niệm ấy chả thể rêu phong mà mãi non tơ như thứ quẹ thơm thảo ngày nào!
***
Năm tháng mây bay nước chảy.
Tình cờ, mới đây tôi gặp lại ông bạn Hiên trong một buổi họp lớp của lớp Văn năm xa ấy. Cũng lạ gần 70 năm của cuộc đời, bao nhiêu những khoảng thời gian của mỗi người đã phải trải, phải chi dùng này khác? Vậy mà chỉ có mấy năm thời gian học ở Khoa Văn Tổng hợp mà bao thứ sâu đậm đã đeo bám đã hớp hồn lũ chúng tôi đến thế? Chuyện mãi không dứt. Rôm rả hơn, mấy ông bạn nhà “có điều kiện” đã tổ chức hẳn một chuyến tham quan ngắn ngày cho cả bọn gần 2 chục đứa lên cao nguyên Châu Mộc.
Ai đi Châu Mộc chiều sương ấy…
Mấy lão “ đệ” của thi sĩ Quang Dũng suốt chuyến đi đã ra cái “ lệ” là cấm được nói Mộc Châu! Mà phải là Châu Mộc!
Đêm ấy nằm gác chân lên ông bạn Hiên.
Trong số bạn bè, có lẽ Hiên ở xa nhất. Cả gia đình trên Điện Biên.
Điện Biên? Sao lại là Điện Biên nhỉ?
Chuyện riêng của Hiên thì hơi bị dài.
Tốt nghiệp, Hiên về công tác tại Ban dân tộc Trung ương. So với chúng bạn thời ấy, tốt nghiệp phân công công tác đi tứ xứ khắp trong Nam ngoài Bắc, Hiên có lẽ gặp may. Tiếng là “Dân Tộc Miền núi” nhưng trụ sở cái Bộ Hiên làm ở ngay tại Thủ đô. Rồi một thời gian sau, Hiên lấy vợ. Vợ Hiên lại là con gái một cụ chuyên viên ở Ủy Ban.
Tôi vuột mãi vào tận một tỉnh phía Nam và chỉ biết láng máng về Hiên như vậy.
Bao nhiêu năm không gặp lại. Cũng có nghe loáng thoáng cái gia đình bé nhỏ của Hiên đã không bền. Cả hai đều có gia đình mới.
Chuyện anh chuyên viên nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái, Nguyễn Hoàng Hiên năm 1987 chuyển lên Điện Biên về công tác tại Sở văn hóa Điện Biên là cả một câu chuyện dài.
… Đêm dần về sáng. Chúng tôi có lẽ đã bước hẳn cái ngạch quá giấc thì rất khó ngủ lại. Tôi cầm cái điếu cày theo Hiên ra chỗ ghế đá trước nhà nghỉ.
Phải đến mồi thuốc lào thứ năm, sáu chi đó tôi mới tạm tường hết gia cảnh của người bạn gần 40 năm chưa gặp lại.
Chuyện cơm không lành, canh không ngọt, gia cảnh vợ chồng Hiên diễn ra từ lâu. Lam, vợ Hiên quen nếp con của một cụ “ cốp” tính vốn vụng về. Lại luôn ca cẩm dằn hắt anh chồng không biết xoay sở kiếm thêm. Giọt nước tràn ly khi Lam có người khác.
Buồn chán, Hiên xin đi công tác miền ngược. Thế nào mà lên Lai Châu, Hiên lại vuột sang Điện Biên. Run rủi một lần ông bạn rủ đi Điện Biên, Hiên kéo bạn về Sa Mứn. Chuyến đi tình cờ thăm lại nơi đi thực tế năm xa lại trở thành chuyến đi định mệnh.
Cái bản Sa Mứn dịu dàng ngày nào đã biến mất nhường chỗ cho một cụm công trình đầu tư đang triển khai. Ông bà Ải/ Êm ( Bố mẹ) đã mất từ lâu.
Và nữa, con suối huyền thoại ngày nào hình như cũng đang ngắc ngoải? Nó không còn ăm ắp nước mà chỉ là con lạch khô cằn ngổn ngang đá.
… Bên tôi chất giọng của Hiên vẫn vẹn nguyên thứ bồi hồi thảng thốt khi ôn lại một quá vãng những ngày đi thực tế ở Sa Mứn.
Nhưng noọng Niên hẵng còn đây! Chồng noọng mất vì bạo bệnh để lại một cậu con trai đã 8 tuổi.
Noọng Niên đã làm một bữa cơm đãi Hiên và anh bạn. Hiên ngạc nhiên bữa ấy có cả món quẹ thuở nào.
Anh bạn tít mít vì bữa rượu. Tỉnh dậy đã vàng vàng mặt trời. Bên bếp lửa thấy Hiên và noọng vẫn ngồi…
Ông bạn bản tính quyết liệt và tháo vát đã nhìn ra rất nhanh! Và lão đã trù liệu đã quyết rất nhanh cái thì tương lại gần của Hiên.
Cuộc lỵ dị với Lam cũng êm thuận chóng vánh. Hiên xin được nuôi cậu con trai 9 tuổi.
Một chỗ làm và cả một chỗ ở tại Sở văn hóa Lai Châu ( hồi đó chưa tách tỉnh) được anh bạn mau mắn thu xếp cho chuyên viên Hoàng Hiên và noọng Niên cùng hai cậu con riêng của họ.
… Ánh ngày một sớm mai trong lành đã chan hòa khắp cao nguyên Châu Mộc. Ngó ông bạn đang uyển chuyển trong những tư thế thái cực quyền, tuổi 70 mà sức lực, thể chất có vẻ Hiên nhô nhỉnh hơn đám bạn cùng lứa đang tụ tập lần họp lớp này?
Hay ông bạn đã đang trải qua cái đoạn cuối đời êm xuôi? Và đang chầm chậm nhấm nháp thứ hạnh phúc mà hồi nãy lão vừa bộc bạch?
Ai đó nói chọn cái xấu thay vì cái tệ hại để ví von những cuộc ly dị? Ai thế nào thì tôi không biết, nhưng với ông bạn lớp mình chả hẳn là xấu khi dũng cảm dứt bỏ điều tệ hại từng đeo bám?

Ở làng Láng
Quán bún riêu như nứt ra từ khoảng bí rì chen chúc các hộ dân cư Láng Thượng. Ông bạn dẫn đến với lời mào đầu rằng, cũng tàm tạm nhưng được cái con mẹ này thửa được thứ rau thơm chính hiệu đất Láng…
Tôi thoáng chút giật mình…
Nhón lên một cọng nhấm nhấm. Chính hiệu? Thấy cũng na ná hao hao như thứ rau thơm lâu này mình xài? Hình như mình đã quen, đã nhờn? Đã lạc mất vị rau thơm làng Láng đặc trưng mà anh bạn nắc nỏm?
Bà chủ quán tùm hum khăn với khẩu trang lù lù đống bát trên tay cất giọng đon đả chào ông bạn khách quen. Lát sau lại quay ra. Chất giọng lảnh lót hẳn.
– Này, có phải chú Ba không?
Khăn cùng cái khẩu trang vuột ra. Đôi mắt lá răm như cười theo miệng.
Trời đất, cái Thắm!
***
Thắm, con gái ông Vượng. Ông Vượng trong Ban an ninh Tiểu khu Láng Thượng.
Anh Sơn tôi là Trưởng ban Bảo vệ Trường Đại học giao thông. Cứ thứ bảy, từ ký túc xá Mễ Trì, tôi lại nhảy tàu điện đi Cầu Giấy. Vợ con anh trong quê. Trước anh ở ngành công an. Sau biệt phái về Bộ giáo dục. Rồi số phận đưa đẩy như nào anh chuyển ngành về Đại học Giao thông sơ tán tận Mai Sưu Hà Bắc. Hết sơ tán, trường giao thông chuyển về Láng Thượng.
Dày dặn nghiệp vụ công an, anh Sơn liên tục được tín nhiệm giữ chức Trưởng Phòng bảo vệ của Trường.
Căn phòng thèo đảnh đầu hồi là chỗ ngủ kiêm bếp nấu của anh Sơn, một ông già độc thân.
Anh Sơn lại có chân trong Ban bảo vệ tiểu khu Láng Thượng.
Láng Thượng thuở ấy mênh mông. Thứ mênh mông thoáng đãng chứ không bí rịt chật cứng nhà cửa dân cư như bây giờ. Quây quanh chùa Láng, chao ôi mênh mang tít tắp lớp lớp không phải những thửa rau thơm mà là cánh đồng rau của mấy HTX.
Anh Sơn thường qua nhà ông Vượng trao đổi công việc an ninh trật tự. Mà có thứ gì to tát. Mấy vụ trộm cắp vặt. Thời ấy rất chi là thưa vắng nạn nghiện hút cùng những vụ trộm lớn.
Họ là bạn thân. Tôi gọi ông Vượng là anh. Ông Vượng cùng anh Sơn trật tuổi ngoài 50.
Cô con gái thứ 2 của ông Vượng đang học lớp 7 đã rất thạo việc rau. Người đã nhổng nhao. Cô bé thoáng đỏ mặt liếc cái nhìn về phía khách khi bà mẹ chất giọng vổng vót.
“Đã bảo chịu khó đặt mấy vại nước tiểu ở nhà cái Thắm, cái Lý, bà Mầu … mà chả chịu đi là thế nào?”
Rồi bà như phân vua với chúng tôi, vốn chỗ khách quen.
“ Các bác ạ, cái giống húng thơm làng Láng không chịu cái anh phân chuồng lẫn bắc mà chỉ chuộng giống nước tiểu thôi. Nước tiểu để mấy ngày cho hoai. Rồi pha thật loãng với nước lã. Tưới không phải hắt lên ngọn mà phải lui cui từng gốc ạ. Ba ngày thì cho uống một lần. Kinh nghiệm các cụ truyền lại cứ thế mà làm. Nào có nhiêu khê gì lắm nhưng cũng mệt phết các bác ạ”
Không biết đã bao lần tôi với anh Sơn thư thả bươn qua cánh đồng húng để qua nhà ông Vượng. Rồi cứ lẩn mẩn quanh quất chỗ đám húng sát hiên nhà.
Đám húng liền kề và nối tít tắp lan xa cùng nhiều loại ra thơm khác nhưng chủ đạo vẫn là thứ húng đã thuần chúng như bà Vượng nói là bán rất được tiền. Cái giống húng thuần chủng bao đời bén rễ xanh cây đất Láng. Tạo nên mảng miếng giữa những um tùm xanh thơm là những thân gốc màu hơi nâu tím như có vảy cao hơn nửa mét. Nhất loạt thân trên trĩu chịt lá, mép lá có khía như răng cưa. Giống húng Láng lạ cái có hoa, ra quả nhưng lại không có hạt. Muốn trồng, như lời bà Vượng, phải ngắt thân cây bánh tẻ rồi vùi trong đất ẩm. Sau vài ngày đoạn thân sẽ mọc rễ. Bầu nên thứ thơm thảo này chả biết là những hợp chất tinh dầu gì nhưng chỉ riêng có của làng Láng như giời cho vậy?
Làng Láng thuộc xã Yên Lãng, gần cửa Bảo Khánh, thành Thăng Long. Sông Tô Lịch chảy qua bên cạnh làng, theo vòng ngoài đê Ðại La. Dân Láng đi đường bộ theo bờ sông Tô, qua cửa Bảo Khánh, vào nội thành Ðại La xưa chỉ chừng hơn cây số. Ðường thủy cũng ngược dòng sông Tô, thuyền đi vào tận phố cổ bên hồ Gươm ngày nay, hoặc theo Ðại hồ qua Giảng Võ, vào đến Quốc Tử Giám cũng chỉ một độ đường ngắn. Dân Láng đem rau, phần lớn là rau thơm vào thành bán thời trước, đều chuyên chở bằng lộ trình ấy. Sử chép, thời Lý, Láng là một trong 61 phường của kinh thành Thăng Long…Nghề trồng rau và cây gia vị bấy giờ đã xuất hiện ở Láng. Ðến thời Trần (thế kỷ 13, phường Láng đổi thành phường Toán Viên ( còn có tên là vườn tỏi) chuyên canh tác loại rau cung cấp cho triều đình và dân kinh thành.
Từng có một Tản Đà thạo ấm thực mê đắm húng Láng. Sách chép, ông đã từng nạy nền nhà ông bạn ở trong Nam để giồng cái giống húng Láng đó sao?
Ông Vượng nói mình đi bộ đội và sau này do công việc, ăn cơm mòn bát thiên hạ nhưng chưa thấy cái giống gia vị nào thơm đến quắt tai đến trào nước mắt như húng Láng quê nhà. Nhiều vùng miền thiếu gì giống húng. Nhưng cái hương cái vị nó cứ như hụt hơi không bền như húng Láng. Cái giống húng thiên hạ khẽ nhấm một tí hay vò ra một cọng là cơn cớ để nhớ quê chợt bùng lên. Bỗng nhớ thêm cái câu của Nguyễn Du “ Hương gây mùi nhớ…” qua lời ông Vượng bộc bạch.
Vùng quê tất tả nghèo túng của tôi đâu có thứ lá thứ rau thảo thơm như này? Tuổi thơ phải lên đồi chặt thứ cây bà ha ( vùng tôi gọi là cây hôi địch) mọc bạt ngàn, lá có mùi hăng hắc. Thứ già thì làm củi đun. Thứ non thì ủ phân xanh. Riết mà miết thế. Nên đến nỗi bây giờ tiện tay vò thứ lá ấy tự nhiên thấy dậy lên mùi… quê kiểng! .
Căn nhà cấp bốn của ông Vượng tuềnh toàng thôi nhưng sạch sẽ ngăn nắp. Nhưng có thứ là lạ. Ấy là bức hoành 4 chữ “Thế Kỳ Xương” ( Mấy chữ này khó chuyển ngữ. Thế nhà hưng vượng. Đại khái thế? )
Mé dưới lại cặp đối khảm trai trên gỗ gụ.
“ Thế nhân bất thức thi tửu gian/ Lạc tại cầm kỳ dư tâm đảng” ( Thiên hạ chẳng hay trong thơ trong cờ và rượu/ Lòng ta cứ mang mang)
Bức hoành cùng cặp đối tôn vinh ngợi ca cái thú nhàn tản ăn chơi cứ như lạc như chuế với khung cảnh bần hàn của gia cảnh nhà ông Vượng?
Nhưng rồi sau đó mới lõm bõm thế này.
Láng Thượng có mấy làng. Cụ Thịnh thân sinh ông Vượng là lý trưởng một làng thuộc Láng Thượng.
Cứ như chuyện ông con thì ông bố thuộc loại có máu mặt. Nhà cũng có bát ăn bát để. Nhưng bà vợ cũng mấy người làm quanh năm tối mắt với mấy mẫu ruộng chuyên trồng rau thơm. Chả phải gánh gồng. Quanh năm cứ mười ngày cứ hái sẵn bó hàng ngàn mớ rau thơm các loại. Khách quen đến tự cất. Tuy lý trưởng chỉ là chức mua, nhưng cụ Thịnh tự hào lắm. Khách đủ hạng đến nhà giao du. Trong số khách, đến tận giờ ông Vượng cũng không hiểu tại sao bố mình chơi rất thân với một ông Tây!
Vị tây ấy là nhân viên nhà Đoan trên thành phố. Ông Tây lại thông làu tiếng ta và có sở thích chung “ phi yến thu lâm” ( gọi chệch nói lái câu “thuốc phiện thú lắm”) với ông Lý làng Thượng. Và nữa cùng mê cái khoản “mộc tồn” ( thịt chó) trứ danh ở làng Cót gần đó! Có lẽ những ngàn, những vạn mớ húng thơm thảo nổi tiếng của bà lý Thịnh từ làng Láng tuy chỉ là chinh là xu mỗi mớ nhưng cứ đều đặn tích cóp đã làm nên cơ ngơi tầm tầm và cung đốn cho sự tiêu pha nhà cụ Lý!
Rồi một sự kiện diễn ra.
Tầm cuối năm ấy, ông Tây nhà Đoan hồi hương về Pháp cũng người vợ người Nam và lũ con 3 đứa. Chẳng hay, hai người đã bàn soạn những gì và được cụ Lý tiếp sức ra sao mà ông Tây Đoan trong mớ hành lý đi tàu biển về quê Mạc Xây ấy có hai cái hòm gỗ to đùng. Một hòm đựng đồ gia đình. Còn chiếc kia thì xếp rất khéo năm chú… cẩu!
Xin bạn đọc từ từ chớ vội sốt ruột. Cứ như nhời thuật lại của ông Vượng con cụ Lý Thịnh trực tiếp chứng kiến đại để như này.
Năm chú chó thịt thuộc dạng bánh tẻ ( không già cũng chẳng non như cụ Lý nói là tầm “ bảy bát”/ con) Làm sạch sẽ. Bỏ lòng bỏ đầu, bỏ chân. Thui rơm nếp khô khén đâu đấy! Lá mơ lông tía 1/3. 2/3 là thứ húng chính tông nhà cụ Lý làng Láng nhồi chặt vào bụng lấy dây đay khâu lại. Rắc thêm chút muối. Giềng tươi giã nhỏ lấy nước cốt thoa đều. Xong lấy lá chuối tươi bọc lại thành 3 lớp. Ngoài lớp lá chuối lấy đất sét bọc kín.
Dùng loại thân tươi gỗ ổi, gỗ nhãn cỡ bằng cổ chân người nhớn ( để đượm than) quây lại hầm 3 ngày 3 đêm. Đợi cho lớp sét bọc ngoài cứng chắc như sành là được.
Ngài Thuế Đoan còn cậy nhờ cụ Lý trực tiếp coi sóc một thứ. Âý là lựa thứ húng chó bánh tẻ phơi trong bóng râm cho heo héo. Rồi đem sấy liu riu trên lửa than củi. Những nhánh húng khô giòn ấy được tán mịn thành bột đựng trong cái nậm bằng quả bầu cốt giữ lấy hương húng.
…
Cụ Lý có biết thế nào không? Ngày về Mạc Xây, tôi sẽ hội đủ những bà con và thân bằng cố hữu trong một bữa tiệc đoàn viên. Năm chú “mộc tồn” nằm xếp lớp trên những tấm khăn ăn trắng tinh ( bên xứ tôi không có lá chuối tươi) Dao, thìa, nĩa… đã sẵn sàng. Đồ uống trong đó có vang đỏ, xứ tôi không thiếu. Nhưng không thể vắng thứ “ cuốc lủi- rượu ngang” cất bằng nếp làng Vòng mà tôi với cụ Lý ưa dùng!
“Xin mời mọi người thưởng thức món đặc biệt. Chồn hương An Nam!”
Sau lời tuyên bố khoát hoạt ấy, tôi sẽ thân chinh dùng chiếc búa gõ nhẹ lên lớp sét sành ấy cho bong tróc phát lộ lớp lá chuối.
Tôi sẽ khéo léo xỉa thành từng miếng lớn để giành phần cho những “phuốc xết” làm việc.
Sau đâu đấy là thủ tục là động thái lấy quả bầu khô đựng hương húng làng Láng rắc nhẹ lên lớp cẩu nhục đương hồng nâu thứ nạc quện chút thứ mỡ trắng tinh. Và bọc ngoài cùng, ô là là, những miếng da hầm thui đượm màu xúc cù là ( socola) Hiệu ứng của thứ bột húng ấy nó sẽ quện sẽ bắt C” est formidable ( một cách kinh khủng) với thứ mộc tồn thui!
Tiếng cười sảng khoái của cụ Lý cùng ông Thuế Đoan lan xa trong đêm lạnh. Cút rượu ngang làng Vòng cũng đã cạn.
Ông Vượng còn nhớ mồn một chất giọng hào hứng trong cái đêm “truyền thanh trực tiếp” của ông khách về bữa tiệc đoàn viên thời tương lai gần ấy.
Đó là năm 1944.
…
Hồi cải cách, gia đình bị quy địa chủ. Cụ Lý Thịnh cũng bị đấu. Rồi bị giam một thời gian. May được thả. Rồi được xuống thành phần trung nông lớp trên.
***
Cụ Lý Thịnh mất đã lâu.
Rồi lần lượt đến ông Vượng.
Anh Sơn tôi về hưu trong Thanh cũng đã mất.
Thắm kéo chúng tôi về nhà.
Nhà chồng. Thắm sắp có cháu nội. Nhà mái bằng. Cái khoảng sân chắc là vuông vắn nhưng Thắm ngăn ra mấy thước đất. Để trồng các thứ rau thơm đất Láng. Thứ ăn thứ phục vụ cho gánh bún riêu.
Tiếng cười vui vẻ của bà chủ trẻ như kéo tôi về một quá vãng mới ngày nào mà như đã lăng lắc. Ngôi nhà cũ ông Vượng mé đầu làng mà tôi với anh Sơn đã qua lại bao lần. Quanh nhà Thắm thuở ấy còn bao la những khoảng không. Gió đồng làng Láng còn thả ràn rạt.
Cô bé Thắm má hồng rựng mỗi sáng tất tả với gánh húng ra chợ.
Đất tiểu khu Láng Thượng dần biến mất nhường chỗ cho vô số những thổ cư.
May mà còn có chỗ cho bà Thắm bây giờ chen chân.
Và cặm cụi gây lại giống húng Láng.
(Còn tiếp)
XUÂN BA


