Bờ rào? Có thể tên ấy, mỗi nơi kêu mỗi khác? Hàng rào, bờ dậu chẳng hạn? Nhưng đích đây, nhỡn tiền đây là thứ bờ rào. Là riêng là đặc thù không riêng chi xứ Bắc mà xứ Trung, từng nhan nhản.

Những bờ rào ở Lý Sơn
Rồi tôi cũng tới được Lý Sơn.
Hòn đảo Lý Sơn được coi là phên dậu của quốc gia. Nơi gần Hoàng Sa nhất.
Đó là lần may mắn được bám càng tốp các nhà điêu khắc, những Hà Trí Dũng, Hoàng Nhân, Phạm Hoàn ra đảo Lý Sơn để dựng nhóm tượng “Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải” bây giờ đang sừng sững trước Bảo tàng Huyện đảo Lý Sơn.
Ở Lý Sơn có lắm cái lạ.
Lần đầu được dõi được tường một quy trình trồng thứ “tỏi độc” Ấy là thứ tỏi một nhánh đặc sản Lý Sơn trên cát chứ không phải đất.
Thứ cát sần sụi nhưng nuột trắng. Chỉ thổ ngơi Lý Sơn mới có. Ngồi bần thần bên cái chậu thau tướng phiên chợ chiều huyện đảo đựng thứ đỉa biển tên chữ là hải sâm, con nào con nấy bằng cườm tay trẻ con. Rồi những con nhím biển, dân đảo kêu bằng con “nhum” tua tủa gai.
Về sau mới biết, dân Lý Sơn từng chế thứ mắm nhum, thứ đặc sản không đâu có dùng để tiến vua mà sách “Đại Nam Thực lục…” có chép một đoạn hẳn hoi.
Lại tha thẩn bên những khu mộ cổ được xây cất bằng thứ đá đen, thứ đá này trên đảo không có. Đá ấy được chuyển từ mãi đất liền ra của những dòng họ có máu mặt. Và những ngôi nhà cổ hơn trăm năm với lối bài trí na ná như một vùng quê Bắc Bộ. Gì nữa, được tường thêm tên nôm của Lý Sơn là Ré. Cù Lao Ré.
Ré là thứ cây tờ tợ như dứa dại, trước thì mênh mông bát ngát, chừ hẵng còn nhiều mọc hoang ở đảo. Dân đảo dùng thứ vỏ từa tựa như dứa này. Ngâm kỹ đập dập. Rồi bện thành thứ chão, thừng. Khô khén nó bền dai hơn sắt. Chuyên dùng cho ngư cụ và đồ đi biển cực kỳ đắc dụng.
Xửa xưa đảo đã có tên Cù Lao Ré là vậy.
Và chợt sững người trước một thứ quen nhưng chợt lạ. Bởi lâu rồi không được ngó, được chạm mặt. Ấy là những bờ rào giăng giăng xuyên mãi vào các khu dân cư trên đảo Lý Sơn.
Bờ rào? Có thể tên ấy, mỗi nơi kêu mỗi khác? Hàng rào, bờ dậu chẳng hạn? Nhưng đích đây, nhỡn tiền đây là thứ bờ rào. Là riêng là đặc thù không riêng chi xứ Bắc mà xứ Trung, từng nhan nhản.
Thứ nhỡn tiền ấy như một cú thúc làm bừng thức một quá vãng?
Cốt của những bờ rào ấy thường là thứ tre vòi tờ tợ như tre gai thân nhỉnh hơn đốt ngón tay người nhớn. Thứ tre ấy hợp nơi rậm tối. Lấy gốc hay hom tre cắm rồi vốc ít bùn phủ lên. Mắt trước mắt sau chỉ ít tháng đã bén xanh nhồng vổng đọt tua tủa.
Hàng chục gốc tre vòi đặt cách nhau theo chiều dài cửa bờ rào- lãnh thổ của một tư gia nào đó chả mấy chốc đã thành một dấu mốc xanh. Để thành thứ biên giới xanh thứ phên dậu bất khả xâm phạm đến nỗi con gà chui cũng khó lọt. Cốt phên dậu ấy như thứ điểm tựa dần dà cùng thời gian cho bao thứ thực vật khác, thứ trồng thứ mọc hoang quấn quýt, giằng rịt theo hàng theo lối choàng ôm lên những bụi cốt tre vòi ấy!
Vài năm? Rồi mấy chục năm, cả hàng trăm năm. Cả mấy đời người? Chả biết nữa. Nhưng những thứ bờ rào nửa thuần nửa hoang ấy chừng như bén hơi người bén cái không khí xóm mạc trại ấp nơi quần cư của làng của thôn mà dày dặn mà dần tày tặn bít bùng.
Những bờ rào rằng rịt giăng mắc ấy hàng bao đời lặng lẽ làm chức phận cho dân Đại Việt “yêu nhau rào dậu cho kín” Giải mã cho kỳ thoáng ra cái câu thâm sâu ghê gớm ấy thì còn là nhọc lẫn nhiêu khê?
Những là Bán anh em xa mua láng giếng gần. Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau…
Thì đã đành. Nhưng hạt nhân của khối đoàn kết của quan hệ thân ái bao đời của dân mình nơi thôn ổ ấy là lằn ranh chủ quyền sở hữu vô hình lẫn hữu hình.
Vô hình là nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ. Không tò mò thóc mách… Hữu hình là không xâm lấn cương vực lãnh thổ. Con gà con qué chó mèo không vô tình lạc lẫn theo cái cách của xóm giềng xấu bụng. Mà bờ rào tuy im phăng phắc nhưng như là thứ nhân chứng tận tụy nghiêm cẩn công minh?
Những bờ rào dày dịt thảo mộc bao quanh tre pheo mướt mát bốn mùa, thời gian cùng lịch sử chừng như đã tôn vinh một danh hiệu khiêm nhường nhưng cao cả, bờ rào Việt! Và ở Lý Sơn đây, những bờ rào Việt ấy hiện diện bao đời nay rồi?
Có lẽ thung thổ khí hậu xứ đảo cách đất liền non trăm cây số nơi gần nhất của Hoàng Sa được ví như phên dậu là đảo tiền tiêu của Tổ quốc na ná như xứ Bắc như miền Trung? Ấy vậy nên những bờ rào Việt bao quanh hay xuyên mãi tít tắp vào khu dân cư của đảo cứ hao hao, na ná cái gằng rịt từng vây bọc tôi một thuở một thời?
Chẳng cần phải cái nhìn chằm chằm hay lom lom. Nhác qua những khúc bờ rào Lý Sơn, tôi đã mồn một bao quanh giống tre vòi quen thương là các thứ thảo mộc thân thiết. Và đắc dụng.
Đầu tiên là cái giống tre vòi. Tưởng cứ nhổng và suông, tứ mùa cứ vọt lên những vòi, những đọt măng. Những đọt măng chỉ nhỉnh hơn ngón tay út ấy chớ vất đi khi bẻ cắt đi cho khuôn với bờ rào vuông vức mà phí. Măng ấy tước sạch trộn muối hột với ớt chỉ thiên ( còn gọi là ớt hiểm, mọc hoang ở góc vườn) thứ ấy bắt cơm phải biết. Hoặc đem thứ măng muối ấy mà kho với cá thì thôi rồi.
Cái bờ rào Việt ấy như một toa thuốc đủ các vị với chức năng quân, thần, tá, sứ.
(Quân, tạm hiểu là vua- chủ vị. Thần như quan lại- vị thuốc quan trọng vừa vừa. Tá giúp đỡ. Sứ điều khiển)
Nhớ thuở học trường huyện Phủ Quảng. Trọ nhờ Hội Đông Y huyện với ông bác họ.
Bác tôi thông thạo chữ Nho. Cùng làm với bác có hai ông thày thuốc người Phúc Kiến nói không sõi tiếng Việt nhưng rất phục y lý của ông bác Hội trưởng. Hai ông chỉ việc cân bốc các vị thuốc mà ông bác kê đơn. Phải nói là thảo thì đúng hơn. Bây giờ mới thấy tiếc thấy nhớ cái tài thư pháp của bậc tiền nhân.
Ông bác không những rành thạo chữ Hán mà còn viết rất đẹp. Đẹp là cách nói. Chữ bác thảo phải gọi là thần khí. Những cái đơn thuốc ông bác tôi kê kiểu liên miên thảo. Vuông giấy bằng thứ giấy tiết kiệm thời bao cấp đen xỉn nhưng đánh nhoáng như sống động như có thần khí khi ông bác tôi lia bút trên đó tên những vị thuốc bắc.
Thuốc bắc thời ấy hơi hiếm. Toa ( đơn) với chức năng công phạt thường không đủ vị. Lương y giỏi và hơn người, hơn một số thày thuốc khác, ngoài việc chẩn mạch bắt, đoán trúng cái gốc của bệnh cho mỗi cơ địa của bệnh nhân còn sáng tạo phương pháp phối trộn các vị thuốc. Những vị thiếu, ông bác tôi thay bằng thuốc Nam. Ông thường có câu mà hai ông người Tàu kia có vẻ không thích người Tàu thường nói người Nam ta sống trên đống thuốc mà đành chờ chết.
Cũng như hai vị người Triều châu không mặn mà lắm với cung cách dùng vị Nam thay vị Bắc. Nhưng phần vì nể ông Hội trưởng, phần bệnh nhân cứ kéo đến tơi tới do uy tín của ông bác nên chả thấy nói gì!
Thuốc Nam ông bác tôi lấy ở đâu? Phần thu mua phần sai nhân viên đi sưu tầm thu hái rồi dự trữ. Nhưng một nguồn nữa, chính là những cái bờ rào thuở ấy còn giăng mắc trong cái làng gần phố huyện Vĩnh Lộc xứ Thanh. Ngoài thời gian làm bài, lũ chúng tôi còn bị sai đi theo nhân viên của bác đi kiếm thuốc…
Bây giờ, chừng như những ngày xưa thương mến bất chợt ập về?
Kìa, khiêm nhường nép bên anh tre vòi ấy thường là cây bồ cu vẽ. Có tên đó có lẽ là sản phẩm của tạo hóa ( nhớ lời bác tôi bảo là có thứ sâu gì đó vẽ trên mặt lá sau những nét vằn vện khi đen khi trắng) dùng để chữa rắn cắn, trị giun chỉ và dùng làm thuốc trị cầm máu mụn nhọt rất hay.
Còn nép bên là cây lá đỉnh, còn có tên là cây tiết dê mà bác tôi gọi là sâm nam có cái tên chữ sang trọng hồ đằng chuyên dùng trị thứ ứ thương ( bị đòn đánh) rất công hiệu. Sở dĩ có cây tiết dê vì vò nát lá nó đông đặc như miếng tiết dê. Cái thứ dịch lá đông mát như thạch ấy, một dạo làng tôi bùng phát dịch đau mắt đỏ cả làng lấy đắp thế mà đỡ mới lạ?
Chao ôi, kia là cây cối xay hoa vàng lâu rồi tôi mới lại thấy. Có nơi kêu bằng cây ngỗng xay. Nó còn có cái tên bằng chữ Hán mà còn nhớ ông bác gọi là kim hoa thảo hoặc ma mãnh thảo. Hình như nhiều tác dụng lắm! Những là vị ngọt tính bình, thanh nhiệt giải độc gì đó. Nhưng chợt bừng trong tôi một chuyện từ cái cây thuốc hoa vàng có cái quả như cái cối xay này.
Đêm ấy có tiếng đập cửa trụ sở Hội Đông Y dồn dập. Trong ánh đuốc bập bùng, một cái võng lù lù ập vào.
Bệnh nhân là một thanh niên to béo lực lưỡng. Người nhà khóc lóc van vỉ nói là nằm ba hôm bên bệnh viện rồi. Tiêm uống mấy loại thuốc nhưng chứng chướng bụng tay chân lạnh mê mệt vẫn không đỡ.
Ông bác tôi co ro khoác cái chăn đơn ngó qua rồi vẫy chị vợ đang bù lu bù loa vào phòng… Lát sau chị vợ quay ra. Ông bác tôi sai tôi và mấy người nữa cầm đèn pin dắt ông đi.
Không xa là cái bờ rào.
Theo hướng dẫn, một nắm tướng lá cối xay được bứt. Ông bác dặn về vò ngay uống mấy bát và ăn cháo đậu xanh gì đó… Cái võng thất thểu chìm vào đêm tối chừng như đám người nhà bệnh nhân đang chán ngán tưởng thuốc gì hóa ra thứ lá lẩu bứt vội ở bờ rào quê vào đêm hôm khuya khoắt?
Hai hôm sau, chị vợ mặt tươi khép nép mang đến chai rượu và con gà đến tạ thày kèm thông tin chồng đã khỏe ăn được cơm. Sau chúng tôi mới biết, anh chồng nọ bị cảm phòng. Mà bệnh ấy, cái lá cối xay là thần dược! Còn động thái bác tôi kêu chị vợ vào phòng hỏi nhỏ là để nắm thông tin cụ thể.
Ma mãnh thảo? Cái tên quá hay!
Mãi mới dứt mắt khỏi cái bờ rào Lý Sơn như một toa thuốc còn đang xôm tụ những cây sung còi, cây sắn ( lá dùng ăn gỏi) cây mía tôm ( giã rượu) vv…
Những bờ rào Việt giằng rịt cây thuốc cùng ăm ắp kỷ niệm quê tôi và nhiều vùng quê xứ Bắc, bao đời dân Việt mình đã vịn đã gửi gắm niềm tin khi đột nhiên tật bênh hoặc vướng vào những chứng tật thông thường?
Và cả khi hiếm hoi rung đùi khoát hoạt bên mâm rượu nghèo ù cái ra bứt vài thứ rau cùng gia vị đưa cay?
Những bờ rào Việt lần lượt bị đốn trụi thay bằng những bờ rào bê tông hoặc xây gạch hoặc đá trần thùi lụi.
Đợt ra Lý Sơn mới đây nhân sự kiện nối điện với đất liền, tôi bồi hồi như gặp lại người quen khi thấy lại những bờ rào Việt mấy năm trước may hãy còn!
Lại lẩn thẩn nghĩ thêm, mấy ông Bộ Văn hóa khi nêu tiêu chí Làng Văn hóa ở nơi đảo xa, nơi phên dậu của quốc gia này có tính đếm đến những cái bờ rào Việt trong cơn lốc đô thị này không nhỉ?
Những bờ rào Việt ở Lý Sơn. Mỗi khi chợt nghĩ thì gụi gần. Mà đi thì đường đất thăm thẳm.

Đường cá Ngậm Ngừm
Gọi đường cá? Hay là chợ cá? Kỳ khôi chứ chẳng còn là kỳ lạ nữa, bởi chạy dọc suốt hơn cây số, hai bên đường cứ giăng giăng những dãy, những sạp cá tươi cùng cá khô?
Xứ mình thênh thang nhiều ngàn cây số biển cùng chằng chịt liên miên những sông hồ ao đầm… Nhưng thử hỏi đã xôm tụ một đường- chợ cá?
Quốc lộ 13, 15 xứ Lào bây giờ tốt không gập ghềnh trúc trắc mà vo vo bánh xe lăn. Từ Viêng Chăn đi khu du lịch Văng Viêng quá trăm cây số thì ôi chao, đụng phải chợ cá Hồ thủy điện Nậm Ngừm!
Tôi chưa kịp có con số chính xác cái năm đập Thủy điện Nậm Ngừm dâng nước cùng việc con hồ nhân tạo hình thành, nghe đâu là đầu những năm 60? Người Viêng Chăn xài điện Nậm Ngừm thoải mái không hết, bán cả sang Thái Lan thu bộn ngoại tệ. Chính vì có con hồ hơi bị mênh mông ấy mà nhiều năm nay người dân Lào cùng đời sống dân quanh khu thủy điện nói riêng cùng lưu vực sông Mê Công đâm tươi hẳn!
Chợ cá Hồ thủy điện Nậm Ngừm như là tín hiệu minh chứng của một đời sống an lành ấy?
Có lẽ nên gọi đường cá hơn là chợ cá Nậm Ngừm? Kỳ khôi chứ chẳng còn là kỳ lạ nữa, ai đời chạy dọc suốt hơn cây số, hai bên đường cứ giăng giăng những dãy, những sạp cá tươi cùng cá khô?
Xứ mình thênh thang nhiều ngàn cây số biển cùng chằng chịt liên miên những sông hồ ao đầm thử hỏi đã xôm tụ cá mà bầu mà tạo nên một đường cá hơi bị hoành tráng thế này?
Trên đất Lào cứ lẩn thẩn nghĩ thêm về con cá…
Một quốc gia không có biển, liên miên chập chùng rừng núi. Từng ám trong tâm trí những đợt, những chuyến ngược mạn Bắc Lào. Những trưa chang chang nắng. Rừng Lào thâm nghiêm cùng là hầm hập. Rợi mát người khi chợt nhảo qua một khúc suối. Mềm lòng khi thấy các mẹ các em chỉ bằng một tay lưới đan bằng sợi gai đương hì hụp ven các hốc đá. Những con cá suối không rõ loài gì, nhỉnh hơn đầu đũa như ngón tay út hiếm hoi lọt thỏm trong rốn lưới. Cần mẫn như thế đã bao lâu rồi, tay chân bợt trắng nhăn nheo mà mới được lưng cái bát ăn cơm? Vậy là quý rồi! Vậy là có chất tươi rồi! Chao ôi con cá suối con con từng lấp lánh hạnh phúc đối với bà con miền núi xứ Lào!
Bao đời nghĩ về cái ăn, nghĩ về dấu ấn nông nghiệp trong một cơ cấu bữa ăn không riêng chi người Lào và người Việt nữa, thịt thà hình như ít nhắc mà chỉ chăm chăm rau với cá. Cơm không rau như đau không thuốc. Cơm với cà nhà có phúc vv…
Còn cá? Không chỉ nhắc, trên cả nhắc, là nắc nỏm. Con cá như minh chứng, vật chứng là nhân chứng của đời sống của triết lý sống cùng là cung cách ứng xử.
Cơm với cá, mạ với con. Con cá đánh ngã bát cơm. Có cá đổ vạ cho cơm. Liệu cơm gắp mắm. Cứt cá hơn lá rau. Cá lớn nuốt cá bé. Gái lạ cá tươi vv…
Chẳng hay những con suối giăng mắc khắp đất nước Lào cùng dòng Mè khoong Nạm Khoong ( tên gọi khúc sông Mê Công đổ qua đất Lào) cung cấp cá bao đời cho dân các bộ tộc Lào những Lào Lùm Lào Thơng Lào Sủng từ thuở Thượng cổ đến nay khối lượng nó là bao nhiêu nhưng người dân Lào cũng từng đúc kết những câu hàm nghĩa đời sống cùng triết lý sống về con cá như dân Việt mình?
Một tiêu chí hạnh phúc?
“Pay kin pa, vua kin lẩu, tẩu nòn sứa hốm pha” (đi ăn cá, về uống rượu, ngủ đêm đắp chăn (bông), hoặc “khẩu nông na, pa đúc pỉnh” (xôi nếp ruộng, cá trê nướng)
Cá – không chỉ là món ăn quen thuộc, mà còn được dùng làm lễ vật cúng tế dịp “Xên bản” (cúng thần bản), lễ “kim khẩu hạch” (ăn cơm mới) và món cá đồ (pa nửng) là lễ vật cúng vía (hệt khoăn) Cá như một thứ tín ngưỡng gắn với thần Nước, Thần sông thần suối.
***
Có thứ canh cá người Lào ở Khu du lịch Vang Viêng đã ám vào tôi. Bát canh cá ( loại tờ tợ như cá nheo cá chiên?) nấu cùng thứ lá như lá cam chua chua ngòn ngọt bắt mắt vừa miệng đến nỗi vừa trông thấy nó chình ình trên sạp cá đầu tiên, tôi gần như đứa trẻ đã phải nhẩy dựng lên rằng, nó đấy! Đích là nó. Cái thứ làm nên huyền thoại canh chua, cá nheo!
Không chỉ có giống cá chiên, cá nheo tôi được thưởng thức ở Vang Viêng! Mà chớm vào chợ cá- đường cá Nậm Ngừm cơ man nào là các loại các thứ cá. Không biết cư trú trong lòng hồ thủy điện và những khúc sông suối đầu nguồn Nậm Ngừm có bao nhiêu loài thủy tộc nhưng cái giống cá xứ này ngó hơi bị lạc mắt? Hao hao na ná như mè, như trôi nhưng sẫm hoặc trắng hơn. Rằng y chang như cá chuối cá quả đấy nhưng hoành tráng bởi to hơn đen sì, đen sậm hơn. Lạ cho giống cá nước ngọt mà có thứ hệt hền hên như cá chim? Lại có thứ cứ xòe ra hết cỡ như cá đuối? Con to cỡ chục ký cả…
Sạp là thứ tre, luồng bổ đôi đan thưa, thoáng. Các loại cá ken dày, bày xếp không theo thứ tự lớn bé mà giăng giăng. Có con đương ngáp như tố cáo chúng vừa được đưa thẳng tới đây? Chắc khúc sông suối hay vị trí của hồ thủy điện cũng chẳng cách xa đường cá này mấy hồi?
Có vẻ như cung nhiều hơn cầu. Bán thì nhiều. Người mua ít. Nhưng lạ là các cô, các bà ngồi bên sạp không một tiếng mời chào ồn ã? Chỉ ngước lên những ánh nhìn ấm áp thân thiện. Chợt nhớ những con phố Viêng Chăn xe cộ nườm nượp vậy mà hiếm hoi lắm mới có tiếng còi xe kiểu sốt ruột giục giã như bên mình! Tính cách người Lào là vậy. Lặng lẽ khiêm nhường. Lạ nữa chợ cá tươi ( chốc nữa tôi nói tiếp cái đường cá- chợ cá khô cũng vậy) không có chuyện mặc cả? Ngó mấy người mua trước đó và bây giờ đến lượt anh bạn ở Viettel Viêng Chăn mua về cho nhà bếp cơ quan. Hai con loại hao hao như cá mè và cá quả. Con mè bảy ký, Con quả gần 8 ký. Cứ cân lên, khách theo lời chủ sạp mà trả tiền. Cá được đưa vào thùng xốp đầy đá. Đảm bảo ngày và một đêm không hề hấn. Chao ôi, con quả vậm vạp thế mà nhẩm tiền kip ra tiền Việt chỉ hơn ba trăm ngàn! Ngó chợ cá Lào thấy cái quan niệm, tất nhiên người Lào quý cá thật nhưng đừng khư khư cùng cổ hũ rằng người Lào khát cá, xứ Lào hiếm cá?
Thư thả lướt dọc qua các sạp. Tò mò vạch mang của những con bự không giãy. Hồng tươi cả! Hóa ra đã bày lên sạp thì không có thứ ươn. Bữa nay trời mưa. Thế còn trời nắng mà tốc độ bán chậm thế này? Cô hàng cá cười líu ríu gì đó. Anh bạn Viettel dịch lại thì chuyển cho lò chế ra cá khô.
***
Cách đường cá- chợ cá tươi không xa là đoạn đường cá- cá khô. Như dài hơn, sạp bầy dày hơn đường cá tươi. Xứ mình lắm cá và nhiều nơi cũng quen cũng chuộng cá khô là thế nhưng chưa thấy vùng miền nào có cuộc bày biện ra chợ, ra thị trường theo cung cách trình diễn bố cục độc đáo như chợ cá khô xứ Lào?
Chẳng hề đơn điệu hay trần thùi lụi một kiểu khô! Mà đương có đang hiện diện có vài chục thậm chí trăm kiểu dáng tiêu bản của thủy tộc cá hồ Nậm Ngừm!
Những bó cá được kết với nhau như chiếc quạt hoa. Thứ xẻ thành miếng. Thứ để nguyên con. Tịnh không có thứ nào tẩm ướp hóa chất màu mè bố láo. Hỏi có tẩm hóa chất chống thối như những vựa cá khô bên mình? Chỉ thấy các chủ hàng nở ra nụ cười ngơ ngác? Tất thảy những đùm những túm buộc cá ấy cứ ánh lên cái màu hổ phách sẫm nâu sang trọng. Hỏi kỹ mới hay, phơi nắng chỉ là phụ mà họ dùng thứ củi thứ than gì đó để xông cá. Xông ngày xông đêm. Thứ khói than ấy có tác dụng giữ cho sắc cá tự nhiên và khỏi biến chất!
Lại nữa là có loại cá chua, thứ nhồi vào ống bương ống nứa, thứ khoanh lại như những liễn giò. Ngó thứ cá chua này, tự dưng nhớ đến người Thái Tây Bắc, tập tục ngôn ngữ rất gần với người Lào. Trong đời sống tinh thần của người Thái, các loài cá chính là thần nước, mà nước như âm hưởng chủ đạo của đời sống.
Mí nậm chắng pen na, mi na chăng pen bản – nghĩa là có nước mới thành ruộng, có ruộng mới thành bản.
Trong hôn nhân người Thái, pơ xổm, pa giảng (cá chua, cá sấy khô) là loại lễ vật bắt buộc nhà trai phải đưa sang nhà gái.
Số cá làm lễ vật dẫn cưới tùy thuộc vào số anh em, cô dì, họ hàng, chú bác bên nhà gái mà chuẩn bị, để nhà trai tặng mỗi gia đình nhà gái một cặp cá sấy khô và một ống cá ướp chua.
Cặp cá sấy khô được đựng trong một “hắp” (giỏ), đan bằng tre hoặc giang kiểu mắt cáo, kiểu “ta leo”, luổng hai đầu man thừa thành tua đẹp mắt, không cần cá to mà chỉ là loại cá chép, diếc to bằng hai ngón tay, mổ dọc sống lưng, bỏ ruột, đem phơi nắng, xếp trên gác bếp cho khô, làm quà biếu thân nhân nhà gái, giá trị thì nhỏ, ý nghĩa thì lớn.
Còn cá chua làm đồ sính lễ là loại cá nhỏ, mổ xong ướp muối, thính gạo cho chua, rồi đem nhồi vào ống tre tươi, gọi là “boọng” (boọng và hắp) là biểu tượng độc đáo trong hôn lễ người Thái Tây Bắc.
Không có thời gian hỏi kỹ để tìm ra sự tương đồng? Nhưng ngó thứ cá chua này y chang như dân Thái bên nhà mình vậy?
… Đã trưa trật. Con đường cá vẫn thưa thớt xe qua. Không rõ việc bán buôn bán cất ở chợ cá khô, tươi này như thế nào nhưng chủ các sạp hàng cứ hai bên đường cá ngồi nguyên như thế mà cứ đăm đăm cái nhìn nhẫn nhịn ra ngoài.
Rời đường cá Nậm Ngừm, tôi học được một câu tục ngữ hơi bị tức tưởi của người Lào Pa nhầy kin pa noi, Pa sọi kin pa siêu (Cá lớn nuốt cá bé, cá bé ăn nuốt cá nhỏ hơn).
(Còn tiếp)
XUÂN BA


