Nghe ông kể chuyện Long đao tôi cũng thấy lạ, thích nữa. Được rồi, có dịp tôi sẽ ghé nhà thờ tổ họ Phạm gốc Mạc ở Xuân Trường, chiêm ngưỡng Định Nam Đao, rồi xin các ông được múa thử vài đường, xem sức tôi có được như vua Mạc Đăng Dung ngày xưa không?

KHỞI NGHĨA
Trước đây, Vũ Đức Cát bị mất chức Thủ ngự sử đồn Ba Lạt vì con trai nhỡ phạm tội, ông uất ức định bỏ về quê, nhưng Chiêu Liễn khuyên nên cố nhẫn nhục, chịu xuống làm lính trong đồn để nắm tình hình chờ thời cơ.
Cách đây hai hôm, Chiêu Liễn cho người nhắn tin với Vũ Đức Cát tìm một thuyền bạn chài là nghĩa quân ngầm, để đưa hai người ra Đồ Sơn bàn việc với tướng Nguyễn Hạnh. Gì chứ vùng bể Ba Lạt này thì Cát nắm rõ nhiều thuyền bè qua lại, neo đậu, quen biết bạn chài, khách thương hồ, kể cả những tên hải phỉ trong lớp ngư phủ. Vì vậy việc tìm thuyền ra biển đối với ông không khó.
Chiều hôm đó, Vũ Đức Cát lân la nói với viên Phó thủ ngự lên thay mình giữ đồn là Nguyễn Trung Diễn:
– Mai nhà tôi có giỗ, tôi về làng Yên Đội Hạ(1) vài ngày ông Diễn nhé?
Trung Diễn vui vẻ gật đầu:
– Ông ở lại một tuần cũng được mà.
Sáng hôm sau Chiêu Liễn đến, Cát đưa Liễn lên một thuyền đánh cá xa bờ, trên có ba nghĩa quân ngầm sẵn sàng hỗ trợ.
Xế trưa hôm ấy, thuyền đến một đảo nhỏ trên vùng biển Đồ Sơn, tướng Nguyễn Hạnh đã đón sẵn.
Ba người thong thả đi bộ ven bờ biển, dõi mắt ngắm những con thuyền lớn nhỏ đang đánh bắt xa xa. Những thuyền ấy khi cần sẽ trở thành chiến thuyền, dân chài và ngư phủ sẽ thành những nghĩa binh.
Nguyễn Hạnh hỏi Chiêu Liễn:
– Sao ông không đưa Ba Vành ra đây chơi?
Chiêu Liễn chậm rãi:
– Tôi muốn chúng ta bàn việc trước đã… Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người về việc chọn thủ lĩnh, hầu hết họ đều đề nghị Ba Vành. Còn ông, ông thấy thế nào?
Nguyễn Hạnh suy nghĩ một lúc, rồi nói:
– Ba Vành là người tốt, chân chất, xông xáo, võ nghệ khó ai sánh bằng. Theo tôi, thủ lĩnh là ông thì hay hơn.
Chiêu Liễn lắc đầu mỉm cười, dừng chân lại:
– Chúng ta đến chỗ mấy cây dương kia trò chuyện, việc này bàn hơi lâu đấy.
Nguyễn Hạnh và Vũ Đức Cát gật đầu.
Ba người ngồi dưới bóng mát của hàng dương nhìn ra bể, quang cảnh trời biển núi non Đồ Sơn bàng bạc ẩn hiện như cõi thần tiên.
Chiêu Liễn nói với Nguyễn Hạnh:
– Cảm ơn ông vừa rồi đã nói và cho ý kiến. Thiết nghĩ: Tôi và ông, kể cả ông Cát đây đều đã lớn tuổi, chúng ta là những cựu thần nhà Lê, nhà Tây Sơn, hai triều ấy đã suy tàn, vượng khí e đã hết. Chúng ta đứng lên khởi binh tranh đấu cho dân nghèo, cho nông dân, ngư dân, tôi nghĩ để người cầm đầu trong giới họ sẽ có ý nghĩa và hay hơn. Ba Vành dũng cảm trung hậu, tính bộc trực chất phác, dễ hoà đồng, sẽ được nhiều người tin yêu. Ông nói Vành tốt bụng, tức Vành có Nhân, thương người, đó là cái Đức. Vành lớn lên từ ruộng đồng sông nước, cần cù chịu khó, lại nổi bật về năng lực võ nghệ, không chịu khuất phục trước bất công, đó là cái Dũng. Thú thật khi mới gặp Ba Vành, tôi hơi lo vì thấy anh trẻ quá, nhà nghèo không được học nhiều. Nhưng qua thời gian, Vành theo tôi đi nhiều nơi thu phục quần hùng, anh đã được nhiều người biết tiếng, yêu mến. Vành cũng học được họ nhiều kinh nghiệm, đã dần dần chín chắn trưởng thành.
Chiêu Liễn nói đến đây thì dừng lại, Nguyễn Hạnh và Vũ Đức Cát gật gù trầm ngâm. Chiêu Liễn quay qua Nguyễn Hạnh:
– Từ lúc tôi, ông và Vành gặp nhau đến giờ, thấm thoát đã năm năm rồi đấy. Giờ Vành đã đến tuổi tam thập nhi lập, qua nhiều gian khổ, anh đã thấm hiểu được phần nào sự đời. Nhìn tướng võ cao lớn uy nghi của Ba Vành ai mà không nể, nhưng Vành luôn khiêm tốn, tự tin chứ không tự cao, đó là cái quý ít ai có được. Vành có Đức, có Dũng, chỉ còn thiếu Trí nữa thôi. Phần Trí quan trọng này đã có ông và tôi bên cạnh trợ giúp, thêm nhiều người tâm huyết chí cốt nữa, như ông Cát đây, như thầy võ của Vành. Tôi không phải vì lá thư của bạn Trần Thiện đã tiến cử mà ưu ái Vành đâu.
Từ lâu tôi đã suy nghĩ rất nhiều về việc này. Tôi nhìn lại những trận chiến xưa và gần đây, rồi nghĩ đến những trận chiến sắp tới, chắc chắn là dữ dội. Quân triều đình ỷ đông mạnh sẽ dùng vũ lực đè ép tiêu diệt chúng ta, để gìn giữ bảo vệ ngôi vị quyền lợi của họ. Thử hỏi tôi và anh có thể cầm gươm trực tiếp đấu với các tướng của triều đình được không? Chúng ta có trí, địch cũng có trí, chưa biết ai hơn ai? Nhưng về võ nghệ gan dạ thì khó ai bằng Ba Vành. Nhất là Vành lại có tài phóng lao bách phách bách trúng, những tướng đối đầu với Vành phải khiếp sợ từ xa, thế thì chưa đấu Vành đã thắng quá nửa. Giết được tướng địch, quân ta sẽ hăng hái, quân địch sợ hãi bỏ chạy. Ta ít quân nhưng tinh thần và thế công sẽ mạnh như chẻ tre. Vì vậy, tôi nghĩ ta nên chọn thủ lĩnh là Ba Vành. Các ông có đồng ý thì ta sẽ tiến hành?
Vũ Đức Cát nãy giờ lặng yên nghe Chiêu Liễn phân tích, giờ ông mới chậm rãi nói:
– Tôi đồng ý với ông Chiêu Liễn. Trong cuộc đối kháng, đầu tiên ta phải có chính nghĩa để được dân theo, sau đó là đánh thắng, cần nhiều tướng giỏi. Tướng giỏi không ai bằng Ba Vành. Còn sau khi thắng rồi, ai đứng đầu cũng được. Thời Tây Sơn, Nguyễn Huệ thuở đầu cũng lấy danh nghĩa phù Lê, sau khi thắng giặc Thanh ông lên làm vua. Lúc đó mới cần cái Trí lãnh đạo, cái Đức lâu dài. Tôi thấy nhiều vị vua sau này đã không có Dũng, còn làm hỏng cái Trí cái Đức của ông cha, mà vẫn đang cai trị đất nước đấy.
Nguyễn Hạnh gật đầu:
– Hai ông nhận xét phán đoán thật chí lý, tôi xin nghe theo. Chỉ sợ Ba Vành không nhận thôi.
Chiêu Liễn gật đầu:
– Tôi cũng e vậy. Ba Vành khiêm tốn, biết mình biết người, quý trọng chúng ta. Có lần Vành nói muốn tôi làm thủ lĩnh. Rồi tôi sẽ từ từ giãi bày, nói cho Vành hiểu những cái lợi cái hại. Vì sự nghiệp chung Vành sẽ đồng ý thôi.
Nguyễn Hạnh thấy Chiêu Liễn không thiết danh vọng mà chỉ chăm lo việc nghĩa, ông nói:
– Việc ta chọn thủ lĩnh xem như đã xong. Thủ lĩnh phải có quân sư, danh vị này không ai bằng ông Chiêu Liễn. Suốt nhiều năm qua, nghĩa binh ngày càng đông và hùng mạnh, không bị quân triều đình dẹp từ trong trứng nước là nhờ kế sách “mối khoét chân đê” của ông. Chiếm được đèo Tam Điệp cũng nhờ mưu ông, và còn bao nhiêu việc khác nữa. Ông đã không nhận chức thủ lĩnh, giờ mà không chịu làm quân sư trong cuộc khởi nghĩa này, thì tôi xin rút lui đấy.
Vũ Đức Cát gật đầu tán đồng:
– Đúng vậy. Ông Liễn phải làm quân sư.
Chiêu Liễn biết Nguyễn Hạnh nói đùa, mà có khi thành thật. Ông cười:
– Chúng ta khởi nghĩa tranh đấu vì dân nghèo, chứ đâu phải vì chức này danh nọ. Có điều, khi chiến đấu thì phải có sự phân công cho đúng với khả năng từng người. Ở đây hai ông đã tin tưởng đề nghị tôi làm quân sư, tôi rất cảm ơn và xin nhận, không nhận cũng không được. Đã là quân sư thì có quyền đề nghị. Hai ông thử nghe quân sư Chiêu Liễn này phân công nhé, để có gì thì góp ý: Ông Nguyễn Hạnh sẽ làm Hữu tướng quân, trông coi địa phận Hải Dương, Cát Bà, Đồ Sơn… Ông Hai Đáng làm Tả tướng quân, có vợ là bà Minh phụ giúp. Ông Vũ Đức Cát làm Tướng duyên hải, trông coi các làng biển Hải Dương Nam Định. Tướng Ba Hầm Chiêu Hổ nắm giữ địa phận Ninh Bình. Thượng đạo tướng quân Ba Hùm cai quản núi rừng Thanh Hoá… Và còn nhiều, nhiều tướng khác nữa, mỗi người nắm giữ chịu trách nhiệm địa phận ở quê mình. Hai ông thấy phân chia như vậy có được không?
Nguyễn Hạnh và Vũ Đức Cát đều gật đầu:
– Đúng là quân sư! Ông đã tính toán bố trí đâu đó cả rồi.
* * *
Hai hôm sau, Chiêu Liễn cùng Vũ Đức Cát xuống thuyền về Trà Lũ, gặp vợ chồng Hai Đáng và Ba Vành.
Chiêu Liễn kể lại những việc đã bàn ở Đồ Sơn, rồi hỏi Ba Vành:
– Anh thấy thế nào?
Ba Vành phân vân một lúc lâu, sau mới nói:
– Thầy và các ông đã định vậy, nhưng tôi rất ngại!… Tôi trẻ người, thiếu hiểu biết. Các ông lớn tuổi, đọc nhiều sách, từng chinh chiến, trải bao việc đời, chẳng qua không tiện đứng ra nắm quyền nên cất nhắc tôi… Tôi chỉ sợ mình không làm tròn.
Chiêu Liễn mỉm cười:
– Anh đừng lo. Chúng tôi đã tin tưởng giao chức thủ lĩnh cho anh là có lý do. Anh cứ nhận, chúng tôi sẽ hết sức trợ giúp. Chúng ta vì việc chung, vì nghĩa lớn.
– Nhưng…
– Tôi biết anh vẫn còn ngại. Không sao. Lý do chúng tôi chọn anh làm thủ lĩnh sẽ có nhiều thuận lợi. Tối nay tôi sẽ giải bày thêm để anh hiểu. Anh sẽ xem qua bài hịch khởi binh mà tôi đã thảo. Chúng tôi đã họp bàn cho thêu cờ, mùng một tháng sau ta sẽ tế cờ phát hịch.
Vành do dự:
– Có cần phải long trọng rầm rộ thế không?
– Phải long trọng chứ. Mười năm “mối khoét chân đê” nay ta đã đủ sức, nắm được nhiều xã huyện, không cần mai danh ẩn tích nữa, mà cần ra mặt công khai chống cường quyền áp bức. Ta phát hịch nói rõ cho thiên hạ biết, để dân tin theo. Sau đó ta đánh chiếm các đồn trại, tiến lên đánh huyện sở, trấn thành. Những trận đầu ta phải thắng để gây tiếng vang, để dân chúng hứng khởi cùng nổi dậy. Mối khoét chân đê lâu ngày, ắt đê phải vỡ.
Ba Vành nghe ra, gật đầu đồng ý:
– Vâng, tất cả là nhờ thầy, nhờ các ông.
* * *
Quân sư Chiêu Liễn tổ chức đại lễ tế cờ, phát hịch khởi binh tế cờ tại ngôi đình cổ rộng bảy gian, trong một làng gần núi Voi.
Trong đình đã có sẵn những nghi trượng, lọng trướng và cờ quạt ngũ sắc, vũ khí bát bảo như côn đao mâu kích kiếm cung dựng nghiêm hai bên.

Hai trăm nghĩa binh cầm dao vác giáo đứng quanh sân đình. Đội vệ binh tinh nhuệ cao lớn xếp hai hàng, đủ cả thuỷ binh, lính bộ và hảo hán sơn cước. Nhiều hào mục đã quy thuận, đông đảo bô lão dân làng lũ lượt kéo ra xem.
Ba hồi chín tiếng chiêng trống vang dội. Đội bát âm hoà bài Lưu Thuỷ đón các thủ lĩnh nghĩa quân vào nội đình làm lễ.
Thủ lĩnh Ba Vành nghiêm trang đứng trước bàn thờ Tổ đình. Phía sau một bước bên phải Vành là quân sư Chiêu Liễn. Tiếp sau là hai vị Hữu Tả tướng quân Nguyễn Hạnh – Hai Đáng, nữ tướng Thị Minh đứng cạnh chồng. Những hàng sau nữa là các dũng tướng vùng lân cận được mời về.
Ba Vành vận áo chàm đen vạt ngắn, quần đen vải thô túm ống, đi giày cỏ, ngụ ý thủ lĩnh là nông dân, từ dân đen mà ra. Đầu ông quấn khăn điều đỏ, ý vâng mệnh trời.
Thủ lĩnh Ba Vành thắp hương, kính cẩn vái lạy, tướng sĩ những hàng sau cũng gập mình lạy theo.
Quân sư Chiêu Liễn tuyên đọc hịch văn, giọng sang sảng vang trong đền, lan ra cả sân ngoài:
“…Họ Nguyễn vốn làm chúa ở phương Nam, lên cướp quyền làm vua cả nước. Hai mươi lăm năm qua, từ Gia Long đến Minh Mệnh, không làm cho quốc thái dân an. Ngập lụt, hạn hán liên miên, dân gian đói rét, dịch bệnh. Con cháu những người theo triều đại trước bị truy tầm sát hại dã man. Chạch bỏ giỏ cua chẳng chết cũng không còn. Giun bị xéo nhiều phải quằn mà chống lại.
Ta vốn là dân đen, bị đói khổ mà đứng lên, nguyện cùng những ai muốn cứu dân, cứu nhà, cứu mình, cầm quân chống lại vua quan triều Nguyễn.
Hơn chục năm qua, ta cùng các tướng sĩ nghĩa quân nổi dậy, nghiêm trị những tên hào mục gian tham, mở đường cho những người bỏ tà theo chính, cấp ruộng chia thóc cho dân đói. Vì vậy nghĩa quân tới đâu cũng được dân theo. Các quan đồn, quan huyện không dám chống đối.
Đánh rắn phải đánh dập đầu. Nay mai nghĩa quân phải chiếm các đồn trại, huyện sở, đánh trấn, đánh thành, đánh đổ vua quan nhà Nguyễn, khôi phục triều Lê. Ta vâng mệnh Trời, thuận lòng người, phát hịch để quốc dân đều biết mà theo…”
Quân sư Chiêu Liễn đọc xong bài hịch, mọi người trong đền đều đồng thanh hô lớn:
– Tuân lệnh! Tuân lệnh!
Ngoài sân nổ ba ống pháo to, lá cờ vuông rộng hơn mét vuông màu chàm đen, màu giản dị thể hiện sức mạnh cứng cõi bền bỉ của dân ruộng đồng bùn đất. Giữa nền cờ ấy thêu nổi hai chữ Hoàng Long màu vàng kim. Viền quanh khung cờ chàm đen là những khung màu ngũ sắc, vẩy rồng vàng hùng dũng uốn lượn viền bọc chung quanh cờ, hai tua dài xanh đỏ ở chóp gáy cờ phất phới bay dài theo gió.
Thủ lĩnh Ba Vành oai vệ bước ra sân, chậm rãi đút lao tre dài vào gáy cờ, cho xuyên mũi lao nhọn ra ngoài, rồi vung tay phóng mạnh. Cờ lao xé gió bay cắm phập vào giữa hồng tâm một bảng gỗ dày được dựng giữa sân, cờ phất phới bay trong gió, mọi người vỗ tay reo hò:
– Hoan hô thủ lĩnh!
– Hoan hô ông Vành!
Tin thủ lĩnh Phan Ba Vành làm lễ tế cờ khởi binh lan đi rất nhanh, suốt từ Hải Dương đến Nam Định, lan sang Ninh Bình, Thanh Hoá, rồi vào đến Huế.
Chỉ vài ngày sau, trong dân gian lan truyền hai câu hát sấm:
Trên Trời có ông sao Tua
Dưới làng Minh Giám có vua Ba Vành.
* * *
Sau buổi tế cờ khởi nghĩa một tuần, tướng Chiêu Hổ tức Ba Hầm đưa một người vào xin gặp thủ lĩnh Ba Vành.
Ba Vành vui vẻ tiếp đón, có quân sư Chiêu Liễn ngồi bên.
Chiêu Hổ nghiêm cẩn giới thiệu:
– Ông đây tên Phạm Thiện, người cùng làng Xuân Trường với tôi. Ông Thiện nguyên là gốc họ Mạc xưa ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, Hải Dương. Ông Thiện là hậu duệ đời thứ mười tám của vua Mạc Đăng Dung. Ông có nói chuyện với tôi, muốn thưa với thủ lĩnh và quân sư một việc. Tôi thấy khá quan trọng nên đưa ông đến gặp.
Ba Vành gật đầu. Chiêu Liễn nói:
– Mời hai ông ngồi. Có việc gì hai ông cứ nói?
Chiêu Hổ đáp:
– Chẳng là… ông Thiện đây cho biết: Họ ông có cây đao quý, muốn dâng lên thủ lĩnh Phan Ba Vành để làm việc nghĩa.
Chiêu Hổ quay qua Phạm Thiện:
– Ông kể đi?
Phạm Thiện gật đầu, chậm rãi kể:
– Thưa, chuyện hơi dài, xin nói để các ông rõ: Khi nhà Mạc họ tôi thất thủ ở Thăng Long, con cháu phải rời đi khắp nơi, thay tên đổi họ để tránh sự truy sát của nhà Trịnh. Ông trưởng họ Mạc của chúng tôi chạy đến thôn Ngọc Tĩnh, xã Xuân Trường, Nam Định. Ông có mang theo một thanh Long đao dài và rất nặng, nguyên là vũ khí của Thế tổ Mạc Đăng Dung. Thuở trẻ Mạc Đăng Dung đã múa đao này thi đỗ Võ trạng nguyên, được xung vào làm trưởng đội túc vệ ở kinh thành. Ông đã dùng đao dẹp loạn nhiều nơi, được thăng đến chức Thái sư, sau đó làm vua. Mạc Thế Tổ rất quý thanh Long đao này, xem như linh vật.
Các cụ họ Mạc nhà tôi sau này kể lại rằng: Ông thợ già rèn đao nổi tiếng thời đó, thấy tướng mạo Mạc Đăng Dung lúc trẻ to lớn khác thường, người cao thước chín, xương vai ngang rộng liền nhau, đoán rằng cậu này sẽ làm nên nghiệp lớn, không phải bằng kinh sử mà bằng con đường võ học. Ông thợ già ưu ái rèn tặng Mạc Đăng Dung một thanh đại đao để sử dụng cho vừa với sức mình. Đại đao có cán rời dài bằng đồng, được gắn với đuôi đao qua một chốt nối chạm hình đầu rồng, nên gọi là Long đao – đó là nghe các cụ tôi kể lại. Khi cụ trưởng họ Mạc nhà tôi chạy về Xuân Trường, sợ nhà Trịnh truy lùng, thấy đao quý sẽ chiếm đoạt, quy thêm tội và giết hại, nên cụ chôn giấu kỹ Long đao, rồi thay tên đổi thành họ Phạm.
Phạm Thiện kể đến đây tạm ngưng, đưa mắt nhìn thủ lĩnh Ba Vành và quân sư Chiêu Liễn, có ý hỏi hai ông muốn nghe tiếp nữa không? Chiêu Liễn gật đầu:
– Chuyện hay đấy! Ông kể tiếp đi, rồi sao?
Phạm Thiện uống nước, rồi kể:
– Các cụ họ Mạc nhà tôi kể: Ông già thợ rèn tặng đao, còn để lại một bài kệ, đại ý: “Cơ nghiệp sẽ dựng lên từ đây, đại đao này chỉ dành cho người có duyên, ai dùng được nó sẽ dựng nên nghiệp lớn”.
Thời gian qua đi, mấy trăm năm rồi, cụ trưởng họ Phạm gốc Mạc ngày ấy đã mất, các cụ hậu duệ sau cũng không còn, chuyện Long đao và nơi chốn giấu cứ quên dần… Thật ra có vài cụ nhớ, đào tìm nhưng không thấy, cho là đã mất, hay có còn thì đao cũng đã rỉ sét gần hết.
Nhưng cách đây một tháng, gò đất phía Nam từ đường họ Phạm gốc Mạc nhà tôi lâu lâu lại phát hoả, chẳng hiểu tại sao? Chúng tôi bàn nhau đào sâu dưới gò đất ấy, thì tìm được Long đao đã sét rỉ ở phần lưỡi, cán đao ống đồng cũng bị rỉ lỗ chỗ vài đoạn. Tìm được đao quí của Mạc Thế Tổ, chúng tôi mừng quá, bàn nhau đặt tên là Định Nam Đao(2), nghĩa là Đao bình định nước Nam.
Hôm nọ tôi đến dự lễ tế cờ khởi nghĩa, thấy thủ lĩnh Ba Vành cao lớn khác thường, xương vai rộng liền ngang giống Thế tổ Mạc Đăng Dung ngày xưa, Mạc Thế Tổ cũng xuất thân là ngư dân nghèo, rồi lại thấy suốt một tuần, đêm đêm sao chổi xuất hiện, nhiều người cho rằng sao chổi nhà trời ấy đang quét những nhát dài, cho sạch đói khổ, loạn lạc. Ngôi sao Tua ấy là thủ lĩnh Ba Vành, giống Mạc Thế Tổ ngày xưa. Những sự trùng hợp đó ắt có điềm linh hiển?
Tôi về nhà tổ họ Phạm kể chuyện, đề nghị các ông trong họ, đem Định Nam Đao mới tìm được tặng thủ lĩnh Ba Vành, hay cho mượn cũng được, để ông Vành dùng đao quý đánh thắng quân triều đình. Tôi thật bụng nói với ông trưởng họ Phạm như vậy, bởi tôi quý ông Vành, muốn ông khởi nghĩa thành công. Vì theo bài kệ xưa thì ai dùng Long đao đó sẽ dựng nên nghiệp lớn.
Ba Vành thích thú nghe, suy nghĩ, rồi hỏi:
– Thế người trong họ Phạm gốc Mạc của ông nói sao?
– Thưa, có người đồng tình, có người đắn đo, sợ đao quý của nhà Mạc rơi vào tay người khác, sợ này sợ nọ, sợ… nhỡ ông Vành không trả đao lại thì sao? Ấy là tôi nói thật…
Ba Vành mỉm cười:
– Đã mượn thì phải trả chứ.
– Vâng, tôi tin và phục ông. Giờ ông có thể đi cùng tôi, hay hôm nào cũng được, đến nói với ông trưởng họ Phạm gốc Mạc vài câu là xong. Đao quý không dùng cũng phí hoài. Được vào tay thủ lĩnh tài ba như ông thì mới xứng đáng.
Ba Vành gật gù:
– Cảm ơn ông với ý tốt vừa rồi. Ông đã nói thật lòng, thì tôi cũng nói thật: Tôi cũng thích múa đao. Tôi đã có Đại đao tàu chuối mà thầy tôi cho, rất vừa với sức tôi. Lúc nãy ông kể Long đao, hay Định Nam Đao gì đó đã rỉ sét. Đao quý đến đâu đi nữa, để lâu trong lòng đất, không có người lau chùi sử dụng thì rỉ sét hư hỏng là phải. Chỉ còn giá trị ở chỗ đao là bảo vật kỉ niệm của vua Mạc Đăng Dung. Mà đã chắc gì đao đó thật sự là của Mạc Thế Tổ? Dẫu tôi có được họ ông tặng đao, hay cho mượn, để có sự may mắn, thì khi chúng tôi thành công, thiên hạ và cả họ ông, sẽ nghĩ là nhờ Định Nam Đao linh hiển của Mạc Thế Tổ? Định Nam Đao là của Mạc Thế Tổ. Đại đao tàu chuối là của tôi, nhất là đao ấy của thầy tôi cho, tôi làm sao phụ được?
Phạm Thiện gật đầu, im lặng. Chiêu Hổ cũng im lặng, thán phục nhìn thủ lĩnh Ba Vành.
Quân sư Chiêu Liễn vuốt râu gật gù, trìu mến nhìn thủ lĩnh trẻ, miên man suy nghĩ: Không ngờ Ba Vành khí khái đến vậy, lại trọng tình nghĩa, trước sau. Đúng rồi! Trời đã cho, đã định, của ai thì trước sau cũng thuộc về người ấy. Trời cho Ba Vành sức khoẻ, đánh đao kinh hồn, nhưng có lẽ nhắc đến thủ lĩnh Ba Vành, ai cũng nghĩ đến tài phóng lao thần sầu…
Chiêu Liễn nghĩ đến đó thì nghe Ba Vành nói với Phạm Thiện:
– Nghe ông kể chuyện Long đao tôi cũng thấy lạ, thích nữa. Được rồi, có dịp tôi sẽ ghé nhà thờ tổ họ Phạm gốc Mạc ở Xuân Trường, chiêm ngưỡng Định Nam Đao, rồi xin các ông được múa thử vài đường, xem sức tôi có được như vua Mạc Đăng Dung ngày xưa không?
PHAN ĐỨC NAM
(Còn tiếp)


